PHÂN TÍCH MÔ MỀM HOLDAWAY Ở NGƯỜI VIỆT NAM
TRƯỞNG THÀNH

                        Nguyễn Lan Anh*, Hồ Thị Thùy Trang*, Mai Thị Thu Thảo* 

TÓM TẮT

Mở đầu: nhằm khảo sát đặc điểm mô mềm mặt người Việt Nam để phục vụ cho chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chỉnh h́nh răng mặt, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Phân tích mô mềm Holdaway ở người Việt Nam trưởng thành có khuôn mặt hài ḥa”. Phương pháp: nghiên cứu thực hiện theo phương pháp cắt ngang phân tích trên phim sọ nghiêng của 62 sinh viên Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh (32 nữ, 30 nam), tuổi từ 18-25. Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều có bố mẹ là người Việt Nam, dân tộc Kinh, có nét mặt nh́n nghiêng chấp nhận được, không bị chấn thương vùng hàm mặt, chưa qua phẫu thuật thẩm mỹ hay chỉnh h́nh răng mặt trước đó, tất cả các răng hiện diện ngoại trừ răng 8. Tất cả phim sọ nghiêng chụp ở tư thế đầu tự nhiên, răng ở cắn khít trung tâm, hai môi ở tư thế nghỉ.

Mục tiêu nghiên cứu: xác định những số đo theo phân tích Holdaway ở người Việt Nam trưởng thành. So sánh sự khác biệt các số đo ở hai giới người Việt Nam. So sánh sự khác biệt các số đo giữa người Việt Nam với người Nhật trưởng thành. Thiết lập tương quan giữa độ lồi xương nh́n nghiêng và góc H trên người Việt Nam trưởng thành.

Kết quả: giá trị trung b́nh và độ lệch chuẩn các số đo theo phân tích Holdaway của người Việt Nam trưởng thành có gương mặt hài ḥa. Khi so sánh sự khác biệt giữa hai giới người Việt Nam, hầu hết các số đo không có khác biệt có ư nghĩa thống kê, trừ kích thước mũi theo chiều trước sau và độ dày môi của nam lớn hơn nữ. Có sự khác biệt về đặc điểm h́nh thái mô mềm mặt khi so sánh những số đo giữa người Việt Nam và người Nhật. Có mối tương quan thuận giữa góc H và độ lồi xương nh́n nghiêng ở người Việt Nam trưởng thành, thể hiện qua phương tŕnh sau: Góc H = 1,071* Độ lồi xương nh́n nghiêng + 14,524.

Kết luận: nghiên cứu này đă cung cấp những thông số cơ bản về đường nét hài ḥa mô mềm mặt của người Việt Nam trưởng thành, làm cơ sở định hướng cho các điều trị chỉnh h́nh và tạo h́nh hàm mặt, đồng thời góp phần nghiên cứu h́nh thái mô mềm mặt người Việt Nam, so sánh sự khác biệt với các dân tộc khác trên thế giới.

Từ khóa: phân tích mô mềm, phim sọ nghiêng, chỉnh h́nh răng mặt, cắn khít trung tâm, tương quan giữa độ lồi xương nh́n nghiêng và góc H.

ABSTRACT

HOLDAWAY SOFT TISSUE ANALYSIS ON VIETNAMESE ADULTS

Nguyen Lan Anh, Ho Thi Thuy Trang, Mai Thi Thu Thao
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1 – 2010:
244 - 252

Background: this study was carried out in order to investigate the characteristics of soft-tissue profile in Vietnamese adults to be applied as an aid to the diagnosis and treatment planning in orthodontics.


Objectives: to determine the characteristics of soft-tissue profile in Vietnamese adults based on Holdaway analysis. To investigate sexual differences between Vietnamese male and female. To compare the Holdaway soft-tissue norms with findings in Japanese adults. To determine the correlation between H angle and skeletal profile convexity. To determine the linear regression equation between H angle and skeletal profile convexity.

Methods: the sample consisted of 62 adults (30 males and 32 females) aged between 18 to 25 with harmonious appearance. The inclusion criteria were: Vietnamese origin, Kinh ethnic groups; having a complete dentition except third molars; good facial symmetry, no significant medical history, no history of trauma; and no previous orthodontic treatment, maxillofacial, or plastic surgery. All subjects were students at the Faculty of Odonto - Stomatology at Ho Chi Minh City. All cephalometric radiographs were taken in natural head position, with the teeth in maximum intercuspation and lips in rest position.

Results and discussion: The soft-tissue cephalometric norms and standard deviations of the Holdaway analysis were determined. No statistically significant differences were found between male and female norms, except for 3 measurements: nose prominence (p<0.01), basic upper lip thicknes and upper lip thickness (p<0.001). The measurements of male were all significantly larger than those of females. These results could reflect the ethnic charateritics of Vietnamese adults. Statistically significant differences were found in the Vietnamese sample when compared with the Japanese norms.  There was a correlation between H angle and skeletal profile convexity, which was represented by the equation: H angle= 1.071* Skeletal profile convexity + 14.524.

Conclusion: these results showed that the soft-tissue facial profiles of Vietnamese and Japanese are different in certain respect; but these values should not be interpreted as treatment goals. These results should serve as a useful reference for orthodontists and maxillofacial surgeons who treat Vietnamese patients and by thus contribute to more satisfactory diagnosis and treatment planning for them.

 Keywords: soft-tissue analysis, cephalometric skeletal profile radiographs, orthodontics, teeth in maximum intercuspation, correlation between H angle and skeletal profile convexity.


MỞ ĐẦU

Thẩm mỹ mặt là một trong những mục tiêu của điều trị chỉnh h́nh răng mặt. Một khuôn mặt hài hoà thẩm mỹ là kết quả ba yếu tố: vị trí răng, kiểu h́nh xương và độ dày mô mềm nhưng mô mềm thay đổi độ dày ở những phần khác nhau trên sọ mặt, đường viền mô mềm không liên quan chặt chẽ với khung xương bên dưới(7). Do đó, khi đánh giá thẩm mỹ mặt nên dựa trên những tiêu chuẩn mô mềm. Burstone đă cho rằng: "Do sự thay đổi đáng kể của mô mềm mặt, điều trị chỉnh h́nh chỉ dựa trên những tiêu chuẩn răng - xương không thể đạt được h́nh thể mặt như mong đợi"(4). Ackerman và Proffit cũng cho rằng thực tế mô mềm có tính quyết định trong việc thay đổi kế hoạch điều trị hơn là mô cứng(1). Do đó cần có sự trợ giúp của phân tích mô mềm trong việc lập kế  hoạch điều trị.

Có nhiều phương pháp phân tích mô mềm được áp dụng trên thế giới như của Burstone, Peck và Peck, Holdaway, Lundstrom...Trong đó, phân tích mô mềm của Holdaway gồm 12 số đo cho thấy mối tương quan giữa các thành phần mô mềm trên gương mặt hài hoà có thể giúp cho việc chẩn đoán, lập kế hoạch điều trị chỉnh h́nh. Tuy nhiên, nghiên cứu của Holdaway trên mẫu người da trắng không thích hợp để áp dụng cho những chủng tộc khác. Do đó, tôi tiến hành nghiên cứu các giá trị số đo của Holdaway trên người Việt Nam trưởng thành có nét mặt nh́n nghiêng chấp nhận được.

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định những số đo theo phân tích Holdaway ở người Việt Nam trưởng thành.

So sánh sự khác biệt các số đo ở hai giới người Việt Nam.

So sánh sự khác biệt các số đo giữa người Việt Nam với người Nhật trưởng thành.

Thiết lập tương quan giữa độ lồi xương nh́n nghiêng và góc H trên người Việt Nam trưởng thành.

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các đim chun (hình 1)

                                  

 H́nh 1. Các điểm chuẩn trên mô xương và mô mềm sử dụng trong phân tích Holdaway

Mặt phẳng tham chiếu

-                   Mặt phẳng Frankfort (FH): là đường thẳng kẻ từ điểm Po đến điểm Or. Mặt phẳng FH cho thấy vị trí tương quan hai hàm chính xác hơn so với mặt phẳng SN.

-                   Đường H: đường tiếp tuyến giữa mô mềm cằm (Pog’) và môi trên.

-                   Mặt phẳng ngang thật sự và mặt phẳng đứng dọc theo tư thế đầu tự nhiên.

Phương pháp phân tích mô mềm Holdaway(6) (h́nh 2)

 

H́nh 2. Phân tích mô mm Holdaway

Góc mặt mô mềm: được tạo bởi giao điểm của mặt phẳng Frankfort và đường thẳng kẻ từ Na' (là giao điểm của đường SN và đường viền mô mềm nh́n nghiêng) đến mô mềm cằm tại điểm phủ lên điểm Pm của Ricketts.

Trung b́nh: 910; độ lệch chuẩn: ±70

 Ư nghĩa: Xác định vị trí cằm theo chiều trước sau.

-                   Giá trị > 980 gợi ư mặt nh́n nghiêng lơm do hàm dưới phát triển về phía trước.

-                   Giá trị < 840 gợi ư mặt nh́n nghiêng lồi do hàm dưới kém phát triển.

Độ nhô mũi: là khoảng cách từ đường vuông góc với mặt phẳng Frankfort tại điểm Ls và điểm Pn.

Trung b́nh: 19mm; độ lệch chuẩn: ±5mm. Số đo lư tưởng là 16mm.

Theo đó, mũi có kích thước < 14mm được coi là nhỏ, trong khi nếu > 24mm th́ là mũi lớn hoặc nhô.

Chiều sâu khe trên: là khoảng cách từ đường vuông góc với mặt phẳng Frankfort tại điểm Ls đến điểm SLS.

Trung b́nh: 3mm. Độ lệch chuẩn: ±1mm.

Ư nghĩa: cho thấy h́nh thể khe môi trên. Trong điều trị chỉnh h́nh cần duy tŕ số đo này ≥ 1,5mm. Khoảng cách từ mô mềm vùng dưới mũi đến đường H: là khoảng cách từ điểm Sn đến đường H.

Trung b́nh: 5mm., độ lệch chuẩn: ± 2mm.

Ư nghĩa: Xác định sự cân bằng giữa khe môi trên, môi trên và cằm.

Giá trị > 7mm cho thấy cằm lui sau hoặc môi trên dày hoặc khe môi trên sâu.

Giá trị <3mm cho thấy cằm phát triển ra trước hoặc môi trên mỏng hoặc khe môi trên ít sâu.

Độ lồi xương nh́n nghiêng: là khoảng cách từ điểm A đến đường Na-Pog mô xương hay mặt phẳng mặt mô xương. Đây là đo lường mô xương nhưng lại có quan hệ trực tiếp với vị trí môi hài hoà.

Nếu điểm A ở phía trước mặt phẳng mặt mô xương: giá trị có dấu +.

Nếu điểm A ở phía sau mặt phẳng mặt mô xương: giá trị có dấu -.

Trung b́nh: 0mm; độ lệch chuẩn: ± 2mm.

Ư nghĩa: Xác định vị trí hàm trên theo chiều trước sau so với mặt nh́n nghiêng                  

Độ dày môi trên cơ bản (a): là khoảng cách từ điểm A’ đến đường viền mô mềm theo phương song song với mặt phẳng ngang thật sự. Tại điểm này, cấu trúc mũi sẽ không ảnh hưởng đến đường viền của môi. Trung b́nh: 15mm.

Độ dày môi trên (b): Khoảng cách từ điểm Ls đến mặt ngoài răng cửa trên theo phương song song với mặt phẳng ngang thật sự. Trung b́nh: 13-14 mm.

Độ căng môi trên = a-b: Trung b́nh: 1mm.

-                   Độ căng môi trên > 1mm khi kích thước dọc tầng dưới mặt lớn hoặc răng cửa hàm trên nhô về phía trước nhiều.

-                   Độ căng môi trên < 0mm  thường do mất kích thước dọc.

Góc H: tạo thành bởi đường H và đường Na-Pog mô mềm. Trung b́nh: 100 khi độ nhô xương là 0 mm (bảng 1). Giới hạn  từ 7-150. Khi độ lồi xương tăng, góc H cũng tăng đối với gương mặt nh́n nghiêng hài hoà ở nhiều độ nhô nh́n nghiêng khác nhau. Ư nghĩa: Đo lường độ nhô môi trên so với mặt nh́n nghiêng.

Khoảng cách từ môi dưới đến đường H:  nếu môi dưới ở trước đường H: giá trị có dấu +, ở sau đường H: dấu -. Trung b́nh: 0 - 0,5mm. Giới hạn: từ -1mm đến 2mm.

Ư nghĩa: Cho thấy vị trí môi dưới so với mặt nh́n nghiêng.

Khoảng cách từ khe dưới tới đường H: là khoảng cách từ điểm ILS đến đường H. Trung b́nh: 5mm. Ư nghĩa: Xác định h́nh thể khe môi dưới.

Độ dày mô mềm cằm: là khoảng cách giữa mặt phẳng mặt mô xương (đường thẳng N-Pog) và mặt phẳng mặt mô mềmường thng t Na' đến đim mô mm ph lên đim Pm ca Ricketts) ti đim Pm. Trung b́nh: 10-12mm.

Đối tượng nghiên cứu

Gồm 62 phim sọ nghiêng của 62 sinh viên (32 nữ, 30 nam) Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh thoả các điều kiện sau: có cha mẹ, ông bà nội - ngoại là người Việt Nam, dân tộc Kinh, không bị chấn thương vùng hàm mặt, các dị h́nh hàm mặt do bệnh lư hoặc do thói quen, có nét mặt nh́n nghiêng chấp nhận được, chưa qua phẫu thuật thẩm mỹ hay chỉnh h́nh răng mặt trước đó, tuổi từ 18-25, sức khoẻ b́nh thường, tất cả các răng hiện diện ngoại trừ răng 8. Đây là loạt phim đã được sử dụng trong nghiên cứu của Hồ Thị Thùy Trang (1999).

Để kiểm tra sai số trong quá trình đo đạc, sau 30 ngày nghiên cứu đo lại 7 phim trong mẫu và dùng phép thử Cronbach's Alpha để xác định khả năng lập lại của kĩ thuật đo. Kết quả các số đo đều có hệ số α 0.94 cho thấy độ kiên định của người đo đáng tin cậy.

́T QUẢ

Qua đo đạc xác định được trung b́nh và độ lệch chuẩn các số đo của người Việt Nam theo phân tích mô mềm của Holdaway (bảng 1).

So sánh sự khác biệt giữa hai giới người Việt Nam

T bng 2 cho thy khi so sánh gia hai gii người Vit Nam hu hết các s đo không có s khác bit có ư nghĩa. Các s đo nam ln hơn có ư nghĩa so vi n: đ nhô mũi (p<0.01), đ dày môi trên cơ bn, đ dày môi trên (p<0.001).

T các kết quả: Góc mặt mô mềm, chiều sâu khe trên, khoảng cách từ Sn - đường H, góc H ở nam không có khác biệt có ư nghĩa so với nữ.

Ta rút ra kết luận:

Vị trí cằm theo chiểu trước sau (đánh giá theo góc mặt mô mềm) của nam không có khác biệt so với nữ. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Lệ(8) (1999). Trong khi đó, tác giả Hồ Thị Thuỳ Trang (1999)(5) kết luận cằm nam nhô ra trước hơn so với nữ. Do nghiên cứu này sử dụng chung mẫu với nghiên cứu của Hồ Thị Thuỳ Trang nên khác biệt này cần phải lưu ư.

Khác biệt này được giải thích do hai nghiên cứu sử dụng những số đo và mặt phẳng tham chiếu khác nhau để đánh giá độ nhô của cằm. Nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Thùy Trang sử dụng mặt phẳng tham chiếu là mặt phẳng thẳng đứng theo tư thế đầu tự nhiên và số đo là góc mặt (tạo thành bởi đường thẳng Na'-Pog' và mặt phẳng thẳng đứng qua Na') (h́nh 3a). Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng mặt phẳng tham chiếu là mặt phẳng Frankfort và số đo góc mặt mô mềm (được tạo bởi giao điểm của mặt phẳng Frankfort và đường thẳng kẻ từ Na' đến mô mềm cằm tại điểm phủ lên điểm Pm của Ricketts) (h́nh 3b). Như vậy, ngoài những yếu tố chung như vị trí cằm và vị trí điểm Na', hai số đo c̣n bị ảnh hưởng bởi độ nghiêng mặt phẳng tham chiếu. Đây  là nguyên nhân đưa đến sự khác biệt này.

                  

(a)                                               (b)

H́nh 3: Góc mt (a) và góc mt mô mm (b).

Chiều sâu khe môi trên không có sự khác biệt giữa nam với nữ.

Độ nhô môi trên (đánh giá theo chiều sâu khe trên, góc H và khoảng cách Sn-đường H) của nam lớn hơn nữ nhưng do sự phân tán của số liệu khá lớn nên khác biệt này không có ư nghĩa thống kê. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Lệ(9)(1999). Nguyễn Thị Minh Hạnh(9)(2004) khi nghiên cứu trên mẫu con của mẫu này (gồm 40 sinh viên có khớp cắn hạng I) cũng rút ra kết luận tương tự. Nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Thuỳ Trang(5)(1999) lại cho thấy môi trên nam nhô ra trước hơn so với nữ.

Tác giả Hồ Thị Thuỳ Trang sử dụng góc mũi môi, một trong những số đo thông dụng để đánh giá độ nhô của môi. Tuy nhiên Holdaway cho rằng góc mũi môi không thích hợp do chịu ảnh hưởng của độ nghiêng vùng dưới mũi. Khi giá trị góc mũi môi lớn chúng ta không xác định được do môi nghiêng ra sau, do mũi hếch lên trên hay cả hai. Do đó nó không thể mô tả thích hợp đường viền mô mềm nh́n nghiêng vùng dưới mũi.

Trong phương pháp phân tích của Holdaway, h́nh thể môi trên được đánh giá qua hai số đo: khoảng cách từ điểm Sn đến đường H và khoảng cách từ SLS đến đường thẳng vuông góc với mặt phẳng Frankfort tại Ls. Trong trường hợp bệnh nhân có nét mặt lồi hay lơm quá mức, đường H thay đổi độ nghiêng làm những số đo đến đường H bị mất ư nghĩa, khoảng cách từ SLS đến đường thẳng vuông góc mặt phẳng Frankfort tại Ls là cách đơn giản nhất để định lượng chính xác độ cong môi trên.

Trên thực tế lâm sàng, không một số đo riêng lẻ nào có ư nghĩa tuyệt đối trong chẩn đoán và thiết lập kế hoạch điều trị. Góc mũi môi cũng như phương pháp phân tích của Holdaway đều có những hạn chế riêng và các nhà chỉnh h́nh cần phối hợp chúng lại để có một cái nh́n tổng quát hơn đối với từng trường hợp bệnh nhân cụ thể.

Kích thước mũi theo chiều trước sau của nam lớn hơn nữ (p<0.01). Kết luận này phù hợp với nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lệ (1999)(9), Hồ Thị Thuỳ Trang (1999)(5). Phạm B́nh Ái Phương (2004)(10) khi nghiên cứu h́nh thái mô mềm mũi người Việt Nam trưởng thành trên sinh viên Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cũng rút ra kết luận mũi nam người Việt dài hơn và nhô hơn nữ.

Độ dày môi trên cơ bản ở điểm A’ (dưới điểm A 3mm) và độ dày môi trên tại Ls của nam lớn hơn nữ (p <0.001) có ư nghĩa. Nguyễn Thị Minh Hạnh (2004)(9) khi nghiên cứu kích thước môi của người Việt Nam trưởng thành có hạng xương I và hạng II trên phim sọ nghiêng cũng đă rút ra kết luận môi nam dày hơn môi nữ. Trong khi đó, độ căng môi trên nam và nữ không khác biệt có ư nghĩa.

Độ lồi xương nh́n nghiêng khác biệt không có ư nghĩa giữa nam và nữ: độ nhô hàm trên không có khác biệt. Nguyễn Thị Mỹ Lệ (1999)(9) khi đo đạc các tỉ lệ mặt của người Việt Namng rút ra kết luận độ nhô hàm trên giữa nam và nữ khác biệt không có ư nghĩa thống kê.

Khoảng cách môi dưới - đường H khác biệt không có ư nghĩa: độ nhô môi dưới không có sự khác biệt giữa nam và nữ. Kết quả này tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hạnh (2004)( 9).

Chiều sâu khe môi dưới khác biệt không có ư nghĩa giữa nam và nữ

 Độ dày mô mềm cằm khác biệt không có ư nghĩa giữa nam và nữ. Kết quả này tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hạnh (2004) (9).

Tóm lại: Khi so sánh các đặc điểm h́nh thái mô mềm mặt giữa nam và nữ người Việt Nam, hầu hết các số đo đều không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê  ngoại trừ độ nhô mũi và độ dày môi của nam lớn hơn nữ. Điều này có thể cho thấy đặc trưng chủng tộc của dân tộc Việt Nam.

So sánh sự khác biệt giữa người Việt Nam và người Nhật trưởng thành

Khi so sánh những đặc trưng mô mềm mặt giữa người Việt Nam và người Nhật trưởng thành đă cho thấy khoảng cách từ Sn đến đường H, độ lồi xương nh́n nghiêng, khoảng cách môi dưới - đường H, khoảng cách khe dưới - đường H không có sự khác biệt có  ư nghĩa giữa người Việt Nam trưởng thành và người Nhật. Góc mặt mô mềm (p <0.01), góc H (p<0.05) ở  người Việt lớn hơn người Nhật. Độ dày môi trên, độ dày môi trên cơ bản, độ căng môi trên, độ nhô mũi, độ dày mô mềm cằm, chiều sâu khe trên (p < 0.001) ở người Việt nhỏ hơn ở người Nhật (bảng 3).

Sự khác biệt về h́nh thái học vùng đầu mặt giữa các chủng tộc trên thế giới đă được nghiên cứu bởi nhiều tác giả trong và ngoài nước. Tất cả đều rút ra kết luận mỗi dân tộc đều có những đặc điểm h́nh thái riêng biệt nên không thể áp dụng tiêu chuẩn của dân tộc này cho những dân tộc khác.

Người châu Á nói chung, người Việt Nam và người Nhật nói riêng có nhiều đặc điểm tương đồng nhau khi so sánh với người da trắng. Thật vậy, trong nghiên cứu của Acalde RE(2) khi so sánh với ngưới châu Âu, mặt người Nhật có xu hướng phát triển xuống dưới và nhô hơn. Theo nghiên cứu của Hồ Thị Thuỳ Trang (1999)(5), Trương Hải Ninh (2003)(11) th́ so với người châu Âu, người Việt có xương ổ răng hàm trên, xương ổ răng hàm dưới nhô hơn và hàm dưới có xu hướng phát triển ra trước và về phía dưới so với xương nền sọ nhiều hơn.

Tuy nhiên, khi so sánh những đặc trưng mô mềm mặt giữa người Việt Nam và người Nhật trưởng thành đă cho thấy có nhiều sự khác biệt. 

-                   Kích thước mũi theo chiều trước sau của người Việt nhỏ hơn người Nhật.

-                   Độ nhô hàm trên không có khác biệt có ư nghĩa.

-                   Môi trên của người Việt Nam nhô hơn so với người Nhật.

-                   Khe môi trên của người Việt Nam cạn hơn so với người Nhật.

-                   Độ dày môi trên cơ bản, độ dày môi trên, độ căng môi trên người Việt Nam nhỏ hơn người Nhật.

-                   Khe môi dưới, độ nhô môi dưới khác biệt không có ư nghĩa giữa người Việt và người Nhật.

-                   Cằm của người Việt Nam nhô ra trước hơn, độ dày mô mềm cằm của người Việt nhỏ hơn người Nhật.

Các kết quả trên một lần nữa khẳng định có sự khác biệt về đặc điểm hình thái răng mặt giữa các dân tộc khác nhau.

Tương quan giữa góc H và độ lồi xương nhìn nghiêng

Trong phân tích của ḿnh, Holdaway cho rằng có mối tương quan giữa góc H và độ lồi xương nh́n nghiêng: khi độ lồi xương tăng, góc H cũng tăng đối với nhiều độ nhô mặt nh́n nghiêng khác nhau. Tương quan này thể hiện mối liên quan giữa mô xương và mô mềm trên khuôn mặt hài ḥa. Nghiên cứu tìm ra mối tương quan thuận chặt chẽ giữa góc H và độ lồi xương nh́n nghiêng (hệ́ tương quan Pearson r = 0.741, p<0.001) và được thể hiện qua phương trình sau:

Góc H= 1.071* Độ lồi xương nh́n nghiêng + 14.524

Để kiểm tra độ tin cậy của phương tŕnh vừa t́m được, nghiên cứu chọn 10 phim sọ nghiêng của người Việt trưởng thành có nét mặt hài hoà trong mẫu nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lệ (1999), áp dụng công thức của phương tŕnh  hồi quy. Kết quả: không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa góc H đo thực tế và góc H tính theo công thức ước lượng.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cắt ngang phân tích được thực hiện bằng cách đo đạc trên 62 phim sọ nghiêng của 62 sinh viên (32 nữ, 30 nam), tuổi từ 18-25 có nét mặt hài hoà. Đây là loạt phim đă được sử dụng trong nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Thuỳ Trang. Qua nghiên cứu rút ra một số kết quả: xác định được trung b́nh và độ lệch chuẩn các số đo của người Việt Nam theo phân tích mô mềm của Holdaway.

So sánh các s đo gia nam và n, rút ra mt s kết lun sau

Hầu hết các số đo đều không có khác biệt có ư nghĩa giữa nam và nữ. Điều này càng khẳng định đặc trưng chủng tộc của người Việt Nam.

Kích thước mũi theo chiều trước sau, độ dày môi trên cơ bản ở điểm A’ và độ dày môi trên tại Ls của nam lớn hơn nữ.

So sánh các số đo giữa người Việt và người Nhật trưởng thành, rút ra một số kết luận sau

Kích thước mũi theo chiều trước sau của người Việt nhỏ hơn ở người Nhật.

Độ nhô hàm trên không có khác biệt có ư nghĩa.

Môi trên của người Việt Nam nhô hơn so với người Nhật.

Khe môi trên của người Việt Nam cạn hơn so với người Nhật.

Độ dày môi trên cơ bản, độ dày môi trên, độ căng môi trên người Việt Nam nhỏ hơn người Nhật.

Khe môi dưới, độ nhô môi dưới khác biệt không có ư nghĩa giữa người Việt và người Nhật.

Cằm của người Việt Nam nhô ra trước hơn, độ dày mô mềm cằm của người Việt nhỏ hơn người Nhật.

Có tương quan thuận giữa góc H và độ lồi xương nh́n nghiêng, thể hiện qua phương tŕnh sau:

Góc H= 1.071* Độ lồi xương nh́n nghiêng + 14.524

Do hạn chế về quy mô và mục tiêu nghiên cứu nên đề tài này có vẻ thiên về nghiên cứu h́nh thái mô mềm mặt của người Việt. Thực ra, phân tích mô mềm Holdaway thể hiện rơ ưu điểm của nó trong thực hành lâm sàng để thiết lập kế hoạch điều trị hơn là nghiên cứu h́nh thái mặt. Dù vậy nghiên cứu này cũng đă đưa ra khái niệm và một cái nh́n tổng quát về một phương pháp phân tích mô mềm mới và bước đầu đă đo đạc được những số liệu thể hiện đặc trưng mặt của người Việt. Những số liệu này sẽ là nền tảng giúp các nhà lâm sàng trong điều trị cũng như các nghiên cứu với quy mô rộng hơn.

Bảng 1: Giá trị trung b́nh, độ lệch chuẩn các số đo trong toàn mẫu.

Số đo

Đơn v

GHD

GHT

TB

ĐLC

Góc mặt mô mềm

độ

84.50

96.00

91.25

2.58

Độ nhô mũi

mm

5.48

16.59

9.86

2.4

Chiều sâu khe trên

mm

1.66

5.20

3.29

0.79

Khoảng cách Sn – đường H

mm

2.78

15.48

9.17

2.55

Độ nhô xương nh́n nghiêng

mm

-5.32

8.14

2.08

2.71

Độ dày môi trên cơ bản

mm

10.36

17.11

13.97

1.54

Độ dày môi trên

mm

11.31

18.75

13.95

1.71

Độ căng môi trên

mm

-3.65

2.72

0.015

1.21

Góc H

độ

9

26.50

16.87

3.89

Khoảng cách môi dưới - đường H

mm

-1.24

4.51

1.87

1.33

Khoảng cách khe dưới - đường H

mm

1.30

7.48

4.13

1.4

Độ dày mô mềm cằm

mm

9.51

16.49

12.59

1.4


Bảng 2: Giá trị trung b́nh, độ lệch chuẩn, mức khác biệt ở hai giới.

Số đo

Đơn v

Nam (n=30)

Nữ (n=32)

Giá trị p

 

 

 

TB

ĐLC

TB

ĐLC

 

 

 

Góc mặt mô mềm

Độ nhô mũi

Chiều sâu khe trên

Khoảng cách từ Sn đến đường H

Độ lồi xương nh́n nghiêng

Độ dày môi trên cơ bản

Độ dày môi trên

Độ căng môi trên

Góc H

Khoảng cách môi dưới - đường H

Khoảng cách khe dưới - đường H

Độ dày mô mềm cằm

độ

mm

mm

mm

mm

mm

mm

mm

độ

mm

mm

mm

91.12

10.73

3.1

9.62

2.2

14.83

14.78

0.05

17.6

2.01

4.3

12.89

2.25

2.53

0.9

3.02

3.28

1.26

1.71

1.43

4.64

1.35

1.5

1.57

91.38

9.05

3.46

8.75

1.96

13.16

13.18

-0.02

16.17

1.75

3.97

12.32

2.89

1.99

0.65

1.96

2.1

1.34

1.3

0.98

2.93

1.32

1.29

1.18

-

**

-

-

-

***

***

-

-

-

-

-


 **   : Khác biệt có ư nghĩa ở mức p<0.01,

***: Khác biệt có ư nghĩa ở mức p<0.001.

  -     :  Khác biệt không có ư nghĩa thống kê.


Bảng 3: Giá trị trung b́nh, độ lệch chuẩn, mức khác biệt ở người Việt Nam và người Nhật.

Số đo

Đơn v

Việt Nam (n=62)

Nhật (n=211)(3)

Giá trị p

 

 

 

TB

ĐLC

TB

ĐLC

 

Góc mặt mô mềm

Độ nhô mũi

Chiều sâu khe trên

Khoảng cách từ Sn đến đường H

Độ lồi xương nh́n nghiêng

Độ dày môi trên cơ bản

Độ dày môi trên

Độ căng môi trên

Góc H

Khoảng cách môi dưới - đường H

Khoảng cách khe dưới - đường H

Độ dày mô mềm cằm

độ

mm

mm

mm

mm

mm

mm

mm

độ

mm

mm

mm

91.25

9.86

3.29

9.17

2.08

13.97

13.95

0.02

16.75

1.87

4.13

12.59

2.58

2.4

0.79

2.55

2.71

1.54

1.71

1.21

3.91

1.33

1.4

1.4

90.16

14.54

4.46

9.06

2.42

15.11

12.54

2.57

15.51

1.62

3.78

13.58

3.22

1.96

2.25

2.86

3.22

2.48

-

2.73

4.28

1.75

2.03

2.31

**

***

***

-

-

***

***

***

*

-

-

***


* : Khác biệt có ư nghĩa ở mức p<0.05,

**: Khác biệt có ư nghĩa ở mức p<0.01.

*** : Khác biệt có ư nghĩa ở mức p<0.001, - : Khác biệt không có ư nghĩa thống kê.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Ackerman, Proffit: Soft tisue limitations in orthodontics: treatment planning guidelines, Angle orthodontic vol 67, No5, 327-336, 1997.

2.          Alcalde RE, Jinno TM, Pogrel MA, Matsumura T: Cephalometric norms in Japanese adults. J. Oral Maxillofac Surg, 56: 129-134, 1998.

3.          Alcalde RE, Jinno T, Orsini MG, Sasaki A, Sugiyama RM, Matsumura T: Soft tissue cephalometric norms in Janpanese adults, Am J Orthod Dentofacial Orthop; 118(1): 84 - 9, 2000 Jul.

4.          Charles J. Burstone: Integumental contour and extension, patterns, Angle orthod, vol 29: 93-104, 1959.

5.          Hồ Thị Thuỳ Trang, Hoàng Tử Hùng: "Những đặc trưng của khuôn mặt hài hoà qua ảnh chụp và phim sọ nghiêng”. Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, 1999.

6.          Holdaway RA: A soft tissue cephalometric analysis and its use in orthodontic treatment planning. Am J Orthod Part I, 84: 1–28, 1983.

7.          Jeffrey S. Genecov, Peter M. Sinclair, Paul C. Dechow: Development of the nose and soft tissue profile, Angle orthod, No.3, 191–198, 1990.

8.          Nguyễn Thị Mỹ Lệ, Hoàng Tử Hùng: "Phân tích sự cân đối của nét nh́n nghiêng mô mềm trên người trưởng thành có khớp cắn b́nh thường”. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú răng hàm mặt, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, 1999.

9.          Nguyễn Thị Minh Hạnh, Đống Khắc Thẩm: "Kích thước môi người trưởng thành có hạng xương I và II trên phim sọ nghiêng”. Tiểu luận tốt nghiệp bác sĩ răng hàm mặt, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, 2004.

10.       Phạm B́nh Ái Phương, Hồ Thị Thuỳ Trang, Mai Thị Thu Thảo: "H́nh thái mô mềm mũi ở người trưởng thành”. Tiểu luận tốt nghiệp bác sĩ răng hàm mặt, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, 2004.

11.       Trương Hải Ninh, Đống Khắc Thẩm: "Phân tích Downs trên người Việt trưởng thành”. Tiểu luận tốt nghiệp bác sĩ Răng hàm mặt, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, 2003.