Nguyễn Lan Anh*, Hồ Thị Thùy Trang*, Mai Thị Thu
Thảo*
TÓM TẮT
Mở đầu: nhằm khảo sát đặc điểm mô mềm
mặt người Việt
Mục tiêu nghiên cứu: xác định những số đo theo phân tích
Holdaway ở người Việt
Kết quả: giá trị trung b́nh và độ lệch chuẩn các số
đo theo phân tích Holdaway của người Việt
Kết luận: nghiên cứu này đă cung cấp những thông số
cơ bản về đường nét hài ḥa mô mềm mặt
của người Việt Nam trưởng thành, làm cơ sở định
hướng cho các điều trị chỉnh h́nh và tạo
h́nh hàm mặt, đồng
thời góp phần nghiên cứu h́nh thái mô mềm
mặt người Việt Nam, so sánh sự khác biệt với
các dân tộc khác trên thế giới.
Từ khóa: phân tích mô mềm, phim sọ nghiêng, chỉnh h́nh răng mặt, cắn khít trung tâm, tương quan giữa độ lồi xương nh́n nghiêng và góc H.
HOLDAWAY SOFT TISSUE ANALYSIS ON VIETNAMESE ADULTS
Background: this study was carried out
in order to investigate the characteristics of soft-tissue profile in
Vietnamese adults to be applied as an aid to the diagnosis and treatment
planning in orthodontics.

Objectives: to determine the
characteristics of soft-tissue profile in Vietnamese adults based on Holdaway
analysis. To investigate sexual differences between Vietnamese male and female.
To compare the Holdaway soft-tissue norms with findings in Japanese adults. To
determine the correlation between H angle and skeletal profile convexity. To
determine the linear regression equation between H angle and skeletal profile
convexity.
Methods: the sample
consisted of 62 adults (30 males and 32 females) aged between 18 to 25 with
harmonious appearance. The inclusion criteria were: Vietnamese origin, Kinh
ethnic groups; having a complete dentition except third molars; good facial
symmetry, no significant medical history, no history of trauma; and no previous
orthodontic treatment, maxillofacial, or plastic surgery. All subjects were
students at the Faculty of Odonto - Stomatology at
Results
and discussion: The soft-tissue cephalometric norms and standard
deviations of the Holdaway analysis were determined. No statistically
significant differences were found between male and female norms, except for 3
measurements: nose prominence (p<0.01), basic upper lip thicknes and upper
lip thickness (p<0.001). The measurements of male were all significantly
larger than those of females. These results could reflect the ethnic
charateritics of Vietnamese adults. Statistically significant differences were
found in the Vietnamese sample when compared with the Japanese norms. There was a correlation between H angle
and skeletal profile convexity, which was represented by the equation: H angle=
1.071* Skeletal profile convexity + 14.524.
Conclusion: these results showed that the soft-tissue facial profiles of Vietnamese and Japanese are different in certain respect; but these values should not be interpreted as treatment goals. These results should serve as a useful reference for orthodontists and maxillofacial surgeons who treat Vietnamese patients and by thus contribute to more satisfactory diagnosis and treatment planning for them.
Keywords: soft-tissue analysis, cephalometric skeletal profile radiographs, orthodontics, teeth in maximum intercuspation, correlation between H angle and skeletal profile convexity.
Thẩm mỹ mặt là một
trong những mục tiêu của điều trị chỉnh
h́nh răng mặt. Một
khuôn mặt hài hoà thẩm mỹ là kết quả ba yếu
tố: vị trí răng,
kiểu h́nh xương
và độ dày mô mềm nhưng mô mềm thay đổi độ dày ở
những phần khác nhau trên sọ mặt, đường
viền mô mềm không liên quan chặt chẽ với khung
xương bên dưới(7). Do đó, khi đánh giá thẩm mỹ
mặt nên dựa trên những tiêu chuẩn mô mềm.
Burstone đă cho rằng: "Do sự thay đổi
đáng kể của mô mềm mặt, điều trị
chỉnh h́nh chỉ dựa trên những tiêu chuẩn răng - xương không thể đạt
được h́nh thể mặt như mong đợi"(4). Ackerman và Proffit cũng cho
rằng thực tế
mô mềm có tính quyết định trong việc thay đổi
kế hoạch điều trị hơn là mô
cứng(1).
Do đó cần có sự trợ giúp của phân tích mô mềm
trong việc lập kế hoạch
điều trị.
Có nhiều phương pháp
phân tích mô mềm
được áp dụng trên thế giới như của Burstone, Peck và Peck, Holdaway, Lundstrom...Trong đó,
phân tích mô mềm của Holdaway gồm 12 số đo cho thấy
mối tương quan giữa các thành phần mô mềm trên
gương mặt
hài hoà có thể giúp cho việc chẩn đoán, lập kế
hoạch điều trị chỉnh h́nh. Tuy nhiên, nghiên cứu
của Holdaway trên mẫu người da trắng không thích hợp
để áp dụng cho những chủng tộc khác. Do
đó, tôi tiến hành nghiên cứu các giá trị số
đo của Holdaway trên người Việt
Xác định những
số đo theo phân tích Holdaway ở người Việt
So sánh sự khác biệt các số đo ở
hai giới người Việt
So sánh sự khác biệt các số đo giữa
người Việt
Thiết lập tương quan giữa độ lồi xương nh́n nghiêng và góc H
trên người Việt

H́nh 1.
Các điểm chuẩn trên mô xương và
mô mềm sử dụng trong phân tích Holdaway
-
Mặt
phẳng Frankfort (FH): là đường thẳng kẻ từ
điểm
-
Đường
H: đường tiếp tuyến giữa mô mềm cằm
(Pog’) và môi trên.
-
Mặt
phẳng ngang thật sự và mặt phẳng đứng
dọc theo tư thế đầu tự nhiên.

H́nh 2. Phân tích mô mềm Holdaway
Góc mặt mô mềm:
được tạo bởi giao điểm của mặt
phẳng
Trung b́nh: 910; độ
lệch chuẩn: ±70
Ư nghĩa: Xác định vị trí cằm theo chiều trước sau.
-
Giá
trị > 980 gợi ư mặt nh́n nghiêng lơm do hàm dưới
phát triển về phía trước.
-
Giá
trị < 840 gợi ư mặt nh́n nghiêng lồi do hàm dưới
kém phát triển.
Độ nhô
mũi: là khoảng cách từ đường vuông góc
với mặt phẳng Frankfort tại điểm Ls và
điểm Pn.
Trung
b́nh: 19mm; độ lệch chuẩn: ±5mm. Số đo lư
tưởng là 16mm.
Theo
đó, mũi có kích thước < 14mm được
coi là nhỏ, trong khi nếu > 24mm th́ là mũi lớn
hoặc nhô.
Chiều
sâu khe trên: là khoảng cách từ đường vuông góc với
mặt phẳng Frankfort tại điểm Ls đến
điểm SLS.
Trung
b́nh: 3mm. Độ lệch
chuẩn: ±1mm.
Ư nghĩa: cho thấy h́nh thể khe môi
trên. Trong điều trị chỉnh h́nh cần duy tŕ số
đo này ≥ 1,5mm. Khoảng
cách từ mô mềm vùng dưới mũi đến đường H: là khoảng cách từ điểm
Sn đến đường H.
Trung b́nh: 5mm., độ lệch chuẩn: ± 2mm.
Ư
nghĩa: Xác định sự cân bằng giữa khe môi trên, môi
trên và cằm.
Giá trị
> 7mm cho thấy cằm lui sau hoặc môi trên dày hoặc
khe môi trên sâu.
Giá trị
<3mm cho thấy cằm phát triển ra trước hoặc
môi trên mỏng hoặc khe môi trên ít sâu.
Độ
lồi xương nh́n nghiêng: là khoảng cách từ
điểm A đến đường Na-Pog mô xương hay mặt
phẳng mặt mô xương. Đây là
đo lường
mô xương nhưng lại có quan hệ trực
tiếp với vị trí môi hài hoà.
Nếu
điểm A ở phía trước mặt phẳng mặt
mô xương: giá trị có dấu +.
Nếu
điểm A ở phía sau mặt phẳng mặt mô
xương: giá trị có dấu -.
Trung
b́nh: 0mm; độ lệch chuẩn: ± 2mm.
Ư
nghĩa: Xác định vị trí hàm trên theo chiều trước
sau so với mặt nh́n nghiêng
Độ
dày môi trên cơ bản (a): là khoảng cách từ điểm
A’ đến đường viền mô mềm theo
phương song song với mặt phẳng ngang
thật sự. Tại điểm này, cấu trúc mũi sẽ
không ảnh hưởng đến đường viền
của môi. Trung b́nh: 15mm.
Độ
dày môi trên (b): Khoảng cách từ điểm Ls đến
mặt ngoài răng cửa trên theo phương song
song với mặt
phẳng ngang thật sự. Trung b́nh: 13-14 mm.
Độ
căng môi trên = a-b: Trung
b́nh: 1mm.
-
Độ
căng môi trên > 1mm khi kích thước dọc tầng dưới mặt lớn hoặc
răng cửa hàm trên nhô
về phía trước nhiều.
-
Độ
căng môi trên < 0mm thường do mất kích thước
dọc.
Góc H: tạo thành bởi đường H và
đường Na-Pog mô mềm. Trung b́nh: 100 khi
độ nhô xương là 0 mm (bảng 1). Giới hạn từ 7-150. Khi độ
lồi xương tăng, góc H cũng tăng
đối với
gương mặt nh́n nghiêng hài hoà ở nhiều độ
nhô nh́n nghiêng khác nhau. Ư nghĩa: Đo lường độ
nhô môi trên so với mặt nh́n nghiêng.
Khoảng
cách từ môi dưới đến đường H: nếu môi dưới ở
trước đường H: giá trị có dấu +, ở
sau đường H: dấu -. Trung b́nh: 0 - 0,5mm. Giới hạn:
từ -1mm đến 2mm.
Ư
nghĩa: Cho thấy vị trí môi dưới so với mặt
nh́n nghiêng.
Khoảng
cách từ khe dưới tới đường H: là khoảng
cách từ điểm ILS đến đường H. Trung
b́nh: 5mm. Ư nghĩa: Xác định h́nh thể khe môi dưới.
Độ
dày mô mềm cằm: là khoảng cách giữa mặt phẳng
mặt mô xương (đường thẳng N-Pog) và
mặt phẳng mặt mô mềm (đường thẳng từ Na' đến điểm mô mềm phủ lên điểm Pm của Ricketts) tại điểm Pm. Trung b́nh: 10-12mm.
Gồm
62 phim sọ nghiêng của 62 sinh viên (32 nữ, 30 nam) Đại
học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh thoả các
điều kiện sau: có cha mẹ, ông bà nội - ngoại
là người Việt Nam, dân tộc Kinh, không bị chấn
thương vùng hàm mặt, các dị h́nh hàm mặt do bệnh
lư hoặc do thói quen, có nét mặt nh́n nghiêng chấp nhận
được, chưa qua phẫu thuật thẩm mỹ
hay chỉnh h́nh răng mặt trước đó, tuổi
từ 18-25, sức khoẻ b́nh thường, tất cả
các răng hiện diện ngoại trừ răng 8. Đây là loạt
phim đã được sử dụng trong nghiên cứu của Hồ Thị Thùy Trang
(1999).
Để kiểm tra sai số trong quá trình đo đạc, sau 30 ngày nghiên cứu đo lại 7 phim trong mẫu và dùng phép thử Cronbach's Alpha để xác định khả năng lập lại của
kĩ thuật đo. Kết quả các số đo đều
có hệ số α ≥ 0.94
cho thấy
độ kiên định của người đo đáng
tin cậy.
Qua
đo đạc xác định được trung
b́nh và độ lệch chuẩn các số đo của
người Việt Nam theo phân tích mô mềm của Holdaway
(bảng 1).
Từ bảng 2 cho thấy khi so sánh giữa hai giới người Việt Nam hầu hết các số đo không có sự khác biệt có ư nghĩa. Các số đo ở nam lớn hơn có ư nghĩa so với nữ: độ nhô mũi (p<0.01), độ dày môi trên cơ bản, độ dày môi trên (p<0.001).
Từ các kết
quả: Góc mặt mô mềm, chiều sâu khe trên, khoảng
cách từ Sn - đường H, góc H ở nam không có khác biệt
có ư nghĩa so với nữ.
Ta rút
ra kết luận:
Vị
trí cằm theo chiểu trước sau (đánh giá theo góc mặt
mô mềm) của nam không có khác biệt so với nữ. Kết
quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn
Thị Mỹ Lệ(8) (1999). Trong khi đó, tác giả
Hồ Thị Thuỳ Trang (1999)(5) kết luận cằm nam
nhô ra trước hơn so với nữ. Do nghiên cứu
này sử dụng chung mẫu với nghiên cứu của Hồ
Thị Thuỳ Trang nên khác biệt này cần phải lưu ư.
Khác
biệt này được giải thích do hai nghiên cứu sử
dụng những số đo và mặt phẳng tham chiếu
khác nhau để đánh giá độ nhô của cằm.
Nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Thùy Trang sử
dụng mặt phẳng tham chiếu là mặt phẳng thẳng
đứng theo tư thế đầu tự nhiên và số
đo là góc mặt (tạo thành bởi đường thẳng
Na'-Pog' và mặt phẳng thẳng đứng qua Na') (h́nh
3a). Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng mặt phẳng
tham chiếu là mặt phẳng Frankfort và số đo góc mặt
mô mềm (được tạo bởi giao điểm của
mặt phẳng Frankfort và đường thẳng kẻ từ
Na' đến mô mềm cằm tại điểm phủ lên điểm Pm của
Ricketts) (h́nh 3b). Như vậy, ngoài những yếu tố chung như vị trí cằm và vị trí
điểm Na', hai số đo c̣n bị ảnh hưởng
bởi độ nghiêng mặt phẳng tham chiếu. Đây là nguyên nhân đưa đến sự khác biệt
này.

(a)
(b)
H́nh 3: Góc mặt (a) và góc mặt mô mềm (b).
Chiều sâu khe môi trên không
có sự khác biệt giữa nam với nữ.
Độ
nhô môi trên (đánh giá theo chiều sâu khe trên, góc H và khoảng
cách Sn-đường H) của nam lớn hơn nữ nhưng do sự phân tán của số liệu
khá lớn nên khác biệt này không có ư nghĩa thống kê. Kết quả này phù
hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ
Lệ(9)(1999). Nguyễn Thị Minh Hạnh(9)(2004) khi nghiên cứu trên mẫu con
của mẫu này (gồm 40 sinh viên có khớp cắn hạng
I) cũng rút ra kết luận tương tự. Nghiên cứu của tác giả Hồ
Thị Thuỳ Trang(5)(1999) lại cho thấy môi
trên nam nhô ra trước hơn so với nữ.
Tác giả
Hồ Thị Thuỳ Trang sử dụng góc mũi môi, một trong những số
đo thông dụng để đánh giá độ nhô của
môi. Tuy nhiên Holdaway cho rằng góc mũi môi
không thích hợp do
chịu ảnh hưởng của độ nghiêng vùng
dưới mũi. Khi giá trị góc mũi môi lớn chúng ta không xác định
được do môi nghiêng ra sau, do mũi hếch lên trên hay cả hai.
Do đó nó không thể mô tả thích hợp đường
viền mô mềm nh́n nghiêng vùng dưới mũi.
Trong phương pháp phân tích của Holdaway, h́nh thể môi trên được
đánh giá qua hai số đo: khoảng cách từ điểm
Sn đến
đường H và khoảng cách từ
SLS đến đường thẳng vuông góc với mặt
phẳng Frankfort tại Ls. Trong trường hợp bệnh
nhân có nét mặt lồi hay lơm quá mức, đường H
thay đổi độ nghiêng làm những số đo
đến đường H bị mất ư nghĩa, khoảng cách từ SLS đến đường
thẳng vuông góc mặt phẳng Frankfort tại Ls là cách
đơn
giản nhất để định
lượng chính xác độ cong môi trên.
Trên thực tế lâm sàng, không một số
đo riêng lẻ nào có ư nghĩa tuyệt đối trong chẩn đoán và
thiết lập kế hoạch điều trị. Góc
mũi môi
cũng như phương pháp phân tích của
Holdaway đều có những hạn chế riêng và các nhà chỉnh
h́nh cần phối hợp chúng lại để có một
cái nh́n tổng quát hơn đối với từng
trường hợp bệnh nhân cụ thể.
Kích thước mũi theo chiều trước sau của nam lớn
hơn nữ (p<0.01). Kết luận này phù hợp
với nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ
Lệ (1999)(9), Hồ Thị Thuỳ Trang (1999)(5). Phạm B́nh Ái Phương (2004)(10) khi nghiên cứu h́nh thái mô mềm
mũi người Việt Nam trưởng thành trên
sinh viên Đại học Y Dược thành phố Hồ
Chí Minh cũng
rút ra kết luận mũi nam người Việt dài hơn và nhô hơn nữ.
Độ dày môi trên cơ bản ở điểm A’ (dưới
điểm A 3mm) và độ dày môi trên tại Ls của nam
lớn hơn
nữ (p <0.001) có ư nghĩa. Nguyễn Thị Minh Hạnh (2004)(9) khi nghiên cứu kích thước môi
của người Việt
Độ lồi
xương
nh́n nghiêng khác biệt không có ư
nghĩa giữa nam và nữ: độ nhô hàm trên không
có khác biệt. Nguyễn Thị Mỹ Lệ (1999)(9) khi đo đạc các tỉ lệ
mặt của người Việt
Khoảng cách môi dưới
- đường H khác biệt không có ư nghĩa: độ nhô môi dưới không có sự khác biệt
giữa nam và nữ. Kết quả này tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị
Minh Hạnh (2004)( 9).
Chiều sâu khe môi dưới
khác biệt không có ư nghĩa giữa nam và nữ
Độ dày mô mềm cằm khác
biệt không có ư nghĩa giữa nam và nữ. Kết
quả này tương tự nghiên cứu của
Nguyễn Thị Minh Hạnh (2004) (9).
Tóm lại: Khi so sánh các
đặc điểm
h́nh thái mô mềm mặt giữa nam và nữ người Việt
Nam, hầu hết các số đo đều không có sự
khác biệt có ư nghĩa thống kê ngoại trừ độ nhô
mũi và độ dày môi của nam lớn hơn
nữ. Điều này có thể
cho thấy đặc trưng
chủng tộc của dân tộc Việt
Khi so sánh những
đặc trưng mô mềm mặt giữa người Việt
Nam và người Nhật trưởng thành đă cho thấy
khoảng cách từ Sn đến đường H, độ
lồi xương nh́n nghiêng, khoảng cách môi dưới -
đường H, khoảng cách khe dưới - đường
H không có sự khác biệt có ư
nghĩa giữa
người Việt Nam trưởng thành và người Nhật.
Góc mặt mô mềm (p <0.01), góc H (p<0.05) ở người Việt lớn hơn người Nhật. Độ
dày môi trên, độ dày môi trên cơ bản, độ căng môi
trên, độ nhô
mũi, độ dày mô mềm cằm, chiều sâu khe trên (p <
0.001) ở người Việt nhỏ hơn ở người Nhật
(bảng 3).
Sự khác biệt về
h́nh thái học vùng đầu mặt giữa các chủng tộc
trên thế giới đă được nghiên cứu bởi
nhiều tác giả trong và ngoài nước. Tất cả đều rút ra kết
luận mỗi dân tộc đều có những đặc
điểm h́nh thái riêng biệt nên không thể áp dụng
tiêu chuẩn của dân tộc này cho những dân tộc
khác.
Người châu Á nói chung,
người Việt
Tuy nhiên, khi so sánh những
đặc trưng mô mềm mặt giữa
người Việt
- Kích thước mũi theo chiều trước sau của người Việt nhỏ hơn người Nhật.
- Độ nhô hàm trên không có khác biệt có ư nghĩa.
-
Môi trên của người Việt
-
Khe môi trên của người Việt
-
Độ dày môi trên cơ bản, độ dày môi
trên, độ căng môi
trên người Việt
- Khe môi dưới, độ nhô môi dưới khác biệt không có ư nghĩa giữa người Việt và người Nhật.
-
Cằm của người Việt
Các kết quả trên
một lần nữa khẳng định có
sự khác biệt về đặc
điểm hình thái răng mặt giữa
các dân tộc khác nhau.
Tương quan
giữa góc H và độ lồi xương
nhìn nghiêng
Trong phân
tích của ḿnh, Holdaway cho rằng có mối tương quan
giữa góc H và
độ lồi xương nh́n nghiêng: khi độ lồi xương tăng, góc H cũng tăng đối với nhiều độ nhô mặt
nh́n nghiêng khác nhau. Tương quan này thể hiện mối liên quan
giữa mô xương và mô mềm trên khuôn mặt hài ḥa. Nghiên cứu
tìm ra mối tương quan thuận chặt chẽ giữa
góc H và độ lồi xương nh́n nghiêng (hệ số tương quan Pearson r = 0.741,
p<0.001) và được thể hiện qua phương trình sau:
Góc H=
1.071* Độ lồi xương nh́n nghiêng + 14.524
Để
kiểm tra độ tin cậy của phương tŕnh vừa t́m được, nghiên cứu chọn
10 phim sọ nghiêng của người Việt trưởng
thành có nét mặt hài hoà trong mẫu nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Thị Mỹ Lệ (1999), áp dụng công
thức của phương tŕnh hồi quy. Kết quả: không có sự khác
biệt có ư nghĩa thống kê giữa góc H
đo thực tế và góc H tính theo công thức ước
lượng.
Nghiên cứu cắt ngang
phân tích được thực hiện bằng cách đo
đạc trên 62 phim sọ nghiêng của 62 sinh viên (32 nữ,
30 nam), tuổi từ 18-25 có nét mặt hài hoà. Đây là loạt phim đă
được sử dụng trong nghiên cứu của tác
giả Hồ Thị Thuỳ Trang. Qua nghiên cứu rút ra một
số kết quả: xác định được trung
b́nh và độ lệch chuẩn các số đo của
người Việt
Hầu hết các số
đo đều không có khác biệt có ư nghĩa giữa nam và nữ.
Điều này càng khẳng
định đặc trưng
chủng tộc của
người Việt
Kích thước mũi theo chiều trước sau, độ dày môi trên cơ bản ở điểm A’ và độ dày môi trên tại Ls của nam lớn hơn nữ.
Kích thước
mũi theo
chiều trước sau của
người Việt nhỏ hơn ở người
Nhật.
Độ nhô hàm trên không có khác biệt có ư
nghĩa.
Môi trên của người Việt
Khe môi trên của người Việt
Độ dày môi trên cơ bản, độ dày môi trên, độ căng môi trên người Việt
Khe môi dưới, độ nhô môi dưới
khác biệt không có ư nghĩa giữa người
Việt và người Nhật.
Cằm của người Việt
Có tương quan thuận giữa góc H và độ lồi xương nh́n nghiêng, thể hiện qua phương tŕnh sau:
Góc H=
1.071* Độ lồi xương nh́n nghiêng + 14.524
Do hạn
chế về quy mô và mục tiêu nghiên cứu nên đề
tài này có vẻ thiên về nghiên cứu h́nh thái mô mềm mặt
của người Việt. Thực ra, phân tích mô mềm
Holdaway thể hiện rơ ưu điểm của nó trong thực
hành lâm sàng để thiết lập kế hoạch điều
trị hơn là nghiên cứu h́nh thái mặt. Dù vậy nghiên cứu này cũng
đă đưa ra
khái niệm và một
cái nh́n tổng quát về một phương pháp
phân tích mô mềm mới
và bước đầu đă đo đạc được
những số liệu thể hiện đặc trưng mặt của người Việt.
Những số liệu này sẽ là nền tảng giúp các
nhà lâm sàng trong điều trị cũng như các nghiên cứu với quy mô rộng
hơn.
Bảng 1: Giá trị trung
b́nh, độ lệch chuẩn các số đo trong toàn mẫu.
|
Số đo |
Đơn vị |
GHD |
GHT |
TB |
ĐLC |
|
Góc mặt mô mềm |
độ |
84.50 |
96.00 |
91.25 |
2.58 |
|
Độ nhô mũi |
mm |
5.48 |
16.59 |
9.86 |
2.4 |
|
Chiều sâu khe trên |
mm |
1.66 |
5.20 |
3.29 |
0.79 |
|
Khoảng cách Sn – đường H |
mm |
2.78 |
15.48 |
9.17 |
2.55 |
|
Độ nhô xương nh́n nghiêng |
mm |
-5.32 |
8.14 |
2.08 |
2.71 |
|
Độ dày môi trên cơ bản |
mm |
10.36 |
17.11 |
13.97 |
1.54 |
|
Độ dày môi trên |
mm |
11.31 |
18.75 |
13.95 |
1.71 |
|
Độ căng môi trên |
mm |
-3.65 |
2.72 |
0.015 |
1.21 |
|
Góc H |
độ |
9 |
26.50 |
16.87 |
3.89 |
|
Khoảng cách môi dưới - đường
H |
mm |
-1.24 |
4.51 |
1.87 |
1.33 |
|
Khoảng cách khe dưới - đường
H |
mm |
1.30 |
7.48 |
4.13 |
1.4 |
|
Độ dày mô mềm cằm |
mm |
9.51 |
16.49 |
12.59 |
1.4 |
Bảng 2: Giá trị trung
b́nh, độ lệch chuẩn, mức khác biệt ở
hai giới.
|
Số
đo |
Đơn
vị |
|
Nữ
(n=32) |
Giá trị
p |
|
|||||||||
|
|
|
TB |
ĐLC |
TB |
ĐLC |
|
|
|||||||
|
Góc mặt
mô mềm Độ
nhô mũi Chiều
sâu khe trên Khoảng
cách từ Sn đến đường H Độ
lồi xương nh́n nghiêng Độ
dày môi trên cơ bản Độ
dày môi trên Độ
căng môi trên Góc H Khoảng
cách môi dưới - đường H Khoảng
cách khe dưới - đường H Độ
dày mô mềm cằm |
độ mm mm mm mm mm mm mm độ mm mm mm |
91.12 10.73 3.1 9.62 2.2 14.83 14.78 0.05 17.6 2.01 4.3 12.89 |
2.25 2.53 0.9 3.02 3.28 1.26 1.71 1.43 4.64 1.35 1.5 1.57 |
91.38 9.05 3.46 8.75 1.96 13.16 13.18 -0.02 16.17 1.75 3.97 12.32 |
2.89 1.99 0.65 1.96 2.1 1.34 1.3 0.98 2.93 1.32 1.29 1.18 |
- ** - - - *** *** - - - - - |
|||||||
** : Khác biệt có ư nghĩa ở mức p<0.01,
***: Khác biệt
có ư nghĩa ở
mức p<0.001.
- : Khác biệt không có ư nghĩa thống kê.
Bảng 3: Giá trị trung
b́nh, độ lệch chuẩn, mức khác biệt ở
người Việt
|
Số đo |
Đơn vị |
Việt |
Nhật (n=211)(3) |
Giá trị p |
|
|||||||
|
|
|
TB |
ĐLC |
TB |
ĐLC |
|
||||||
|
Góc mặt mô mềm Độ nhô mũi Chiều sâu khe trên Khoảng cách từ Sn đến
đường H Độ lồi xương nh́n nghiêng Độ dày môi trên cơ bản Độ dày môi trên Độ căng môi trên Góc H Khoảng cách môi dưới - đường
H Khoảng cách khe dưới - đường
H Độ dày mô mềm cằm |
độ mm mm mm mm mm mm mm độ mm mm mm |
91.25 9.86 3.29 9.17 2.08 13.97 13.95 0.02 16.75 1.87 4.13 12.59 |
2.58 2.4 0.79 2.55 2.71 1.54 1.71 1.21 3.91 1.33 1.4 1.4 |
90.16 14.54 4.46 9.06 2.42 15.11 12.54 2.57 15.51 1.62 3.78 13.58 |
3.22 1.96 2.25 2.86 3.22 2.48 - 2.73 4.28 1.75 2.03 2.31 |
** *** *** - - *** *** *** * - - *** |
||||||
* : Khác biệt có ư nghĩa ở mức p<0.05,
**: Khác biệt có ư nghĩa ở mức p<0.01.
*** : Khác biệt có ư nghĩa ở mức p<0.001, - : Khác biệt không có ư nghĩa thống kê.
1. Ackerman, Proffit: Soft tisue limitations in orthodontics: treatment planning guidelines, Angle orthodontic vol 67, No5, 327-336, 1997.
2.
Alcalde RE, Jinno TM, Pogrel MA, Matsumura T: Cephalometric norms in
Japanese adults. J. Oral Maxillofac
Surg, 56: 129-134, 1998.
3.
Alcalde RE,
Jinno T,
Orsini MG,
Sasaki A,
Sugiyama RM,
Matsumura T:
Soft tissue cephalometric norms in Janpanese adults, Am J Orthod
Dentofacial Orthop; 118(1): 84 - 9, 2000 Jul.
5.
Hồ Thị
Thuỳ Trang, Hoàng Tử Hùng: "Những đặc
trưng của khuôn mặt hài hoà qua ảnh chụp
và phim sọ nghiêng”. Luận văn thạc
sĩ Y học, Đại học Y dược
thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
6.
Holdaway RA:
A soft tissue cephalometric analysis and its use in orthodontic treatment
planning. Am J Orthod Part I, 84: 1–28, 1983.
8.
Nguyễn
Thị Mỹ Lệ, Hoàng Tử Hùng: "Phân tích sự cân
đối của nét nh́n nghiêng mô mềm trên người
trưởng thành có khớp cắn b́nh thường”. Luận
văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú
răng hàm mặt, Đại học Y dược
thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
9.
Nguyễn
Thị Minh Hạnh, Đống Khắc Thẩm: "Kích
thước môi người trưởng thành có hạng
xương I và II trên
phim sọ nghiêng”. Tiểu luận
tốt nghiệp bác sĩ răng
hàm mặt, Đại học
Y dược thành phố Hồ Chí Minh, 2004.
10.
Phạm
B́nh Ái Phương, Hồ Thị Thuỳ Trang, Mai Thị
Thu Thảo: "H́nh thái mô mềm mũi ở
người trưởng thành”. Tiểu luận tốt nghiệp
bác sĩ răng
hàm mặt, Đại học
Y dược thành phố Hồ Chí Minh, 2004.
11.
Trương
Hải Ninh, Đống Khắc Thẩm: "Phân tích