Nguyễn Thị Minh Hân*, Lê Đức Lánh*, Lê Huỳnh
Thiên Ân*
Mở
đầu:
đau và sưng là
hai biến chứng thường xảy ra sau phẫu thuật
nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch và đây
cũng là điều gây nhiều lo lắng nhất cho bệnh
nhân. Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề này chưa
được nghiên cứu một cách hệ thống.
Mục
tiêu: nghiên cứu
cắt ngang thực hiện trên 50 bệnh nhân (19-39 tuổi) có chỉ định và nhu cầu nhổ
răng khôn hàm dưới mọc lệch đến khám và
điều trị tại Khoa Răng Hàm Mặt, Đại
học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm t́m hiểu kỹ
hơn về diễn tiến của đau và sưng sau phẫu
thuật nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch
trong 14 ngày sau phẫu thuật.
Phương
pháp nghiên cứu:
bệnh nhân được hướng dẫn ghi nhận
mức độ đau nhiều nhất của ḿnh vào bảng
nhật kư phẫu thuật. Mức độ sưng mặt
được đánh giá hàng ngày bằng cách dùng thước
dây đo khoảng cách giữa các điểm chuẩn.
Đau và sưng được đánh giá trong điều
kiện thực hiện nghiên cứu có uống thuốc
kháng sinh, kháng viêm non-steroid (Ibuprofen) sau phẫu thuật. Kết
quả cho thấy có 92% bệnh nhân đau nhiều nhất
vào ngày thứ nhất sau phẫu thuật; 96% bệnh nhân bắt
đầu hết đau trong một tuần sau phẫu thuật;
62% bệnh nhân đau nhiều nhất ở cường độ nhẹ và trung b́nh. Mức
độ sưng mặt theo chiều dọc đạt giá
trị lớn nhất vào ngày thứ 1 đến ngày thứ
3 sau phẫu thuật sau đó giảm dần và hết
sưng vào ngày thứ 6 sau phẫu thuật. Mức độ
sưng mặt theo chiều ngang đạt giá trị lớn
nhất vào ngày thứ 1 đến ngày thứ 2 sau phẫu
thuật sau đó giảm dần và hết sưng vào ngày thứ
6 sau phẫu thuật.
Kết
luận: nghiên cứu
cho thấy không có sự khác biệt giữa nam và nữ về
diễn tiến của quá tŕnh đau và sưng sau phẫu thuật nhổ
răng khôn hàm dưới mọc lệch
Từ
khóa: phẫu
thuật nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch,
đau và sưng, sau phẫu thuật.
EVALUATION OF PAIN AND SWELLING FOLLOWING IMPACTED
THIRD MOLAR SURGERY
Nguyen Thi Minh Han, Le Duc
Lanh, Le Huynh Thien An
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 – Supplement of No 1 – 2010: 253 - 259
Background: pain and
swelling are the most common complications following impacted third molar
surgery and they are also the most common cause of patient’s anxiety.
Nevertheless, the pain and swelling patterns has not been systematically study
in the dental clinic of our faculty yet.
Objectives: this
cross-control study was carried out on 50 patients treated at the Oral Surgery
department.

Method: the patients were
asked to fill a questionnaire to evaluate the intensity of pain during 14 days
after surgery. The severity of swelling was measured every day by an examiner,
14 times after surgery. Pain and swelling were evaluated under the condition of
daily use of antibiotics and nonsteroid anti-inflammatory drugs for three days.
The results showed that 92% patients suffered the worst pain on the first day
after surgery; 96% were relieved from pain one week after surgery; 62% reported
their worst pain as light to medium intensity. Facial swelling, vertically and
transversally measured, peaked on the first day, second day and third day after
the surgical procedure, then gradually decreased and vanished at the sixth day
after surgery.
Conclusion: there were no statistically significant differences between men and women in regard to pain and swelling patterns after third molar surgery.
Keywords: impacted third
molar surgery, pain and swelling patterns, after surgery.
Phẫu
thuật răng khôn hàm dưới mọc lệch là một
trong những phẫu thuật răng miệng thường
gặp nhất trong nha khoa(4,5,6,8). Đây cũng là
một can thiệp xâm lấn gây tổn thương
đáng kể cho xương và mô mềm, do đó khó tránh khỏi
sưng và đau sau phẫu thuật(1,2,3,9,11). Trong khi đó,
đau và sưng là hai vấn đề bệnh nhân thường
quan tâm và lo lắng nhất; điều này phần nào
đă gây nên những trở ngại cho người phẫu
thuật viên khi tiến hành can thiệp(10,12). Hiểu
rơ quá tŕnh đau và sưng sau phẫu thuật nhổ
răng khôn hàm dưới mọc lệch, phẫu thuật
viên sẽ có dự pḥng những tai biến có thể xảy
ra và giải thích cho bệnh nhân những vấn đề
về đau và sưng sau phẫu thuật, giúp chuẩn bị
tốt tâm lư, đem lại sự thoải mái, an tâm cho bệnh
nhân(7,13,14,15).
Mục tiêu tổng
quát: Đánh giá sự cảm nhận
đau và mức độ sưng mặt của
bệnh nhân trong 14 ngày sau phẫu thuật nhổ răng
khôn hàm dưới mọc lệch.
-
Xác
định thời điểm bệnh nhân đau nhiều
nhất sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới
mọc lệch.
-
Xác
định mức độ đau nhiều nhất sau phẫu
thuật nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch.
-
Xác
định thời điểm bệnh nhân hết đau
sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới mọc
lệch.
-
So
sánh sự khác biệt giữa nam và nữ về thời
điểm đau nhiều nhất, mức độ
đau nhiều nhất và thời điểm bắt đầu
hết đau sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm
dưới mọc lệch.
-
Xác
định thời điểm bệnh nhân sưng nhiều
nhất sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới
mọc lệch
-
Xác
định thời điểm bệnh nhân bắt đầu
hết sưng sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm
dưới mọc lệch.
-
So
sánh sự khác biệt giữa nam và nữ về mức
độ sưng mặt trong 14 ngày sau phẫu thuật nhổ
răng khôn hàm dưới mọc lệch.
Đối
tượng nghiên cứu: chọn mẫu thuận tiện
gồm 50 bệnh nhân (18-45 tuổi) có chỉ định và
nhu cầu nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch,
đến khám và điều trị tại Bộ môn Nhổ
răng-Tiểu phẫu thuật, Khoa Răng Hàm Mặt,
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
Không chọn trong nghiên cứu
những bệnh nhân: Bệnh nhân đang có thai, cho con bú. Bệnh
nhân có tiền sử dị ứng với thuốc tê. Bệnh
nhân mắc một số bệnh toàn thân: tim mạch, cao huyết
áp, tiểu đường. Bệnh nhân đang có t́nh trạng
nhiễm trùng cấp tại vị trí răng khôn. Những
bệnh nhân không thể và không chịu hợp tác trong việc
cung cấp những thông tin cần thiết theo yêu cầu của
nghiên cứu hay theo các chỉ định của phẫu
thuật viên.
Phương
tiện nghiên cứu: phim quanh chóp. Bộ dụng
cụ phẫu thuật răng miệng cho răng khôn hàm
dưới. Trang nhật kư phẫu thuật. Thước
dây. Bút lông vẽ đánh dấu.
Phương
pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang.
Trước phẫu thuật: bệnh
nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu
được giải thích, thông báo đầy đủ về
mục đích nghiên cứu, các quy định phải tuân
theo, đồng ư hợp tác để thực hiện
nghiên cứu và kư tên vào mẫu đồng ư tham gia nghiên cứu.
Bệnh nhân được khám tổng quát, xét nghiệm
thường qui, chụp phim quanh chóp. Dữ liệu cơ
sở cần thu thập: tuổi, giới tính.
Trong khi
phẫu thuật: phẫu thuật được thực
hiện bởi một bác sĩ tại bộ môn theo kỹ
thuật phẫu thuật cơ bản đang được
áp dụng tại bộ môn Nhổ răng-Tiểu phẫu
thuật cho tất cả các đối tượng trong
nhóm mẫu nghiên cứu bao gồm các giai đọan: gây tê
vùng và gây tê tại chỗ bằng thuốc tê Lidocaine 2% có
thuốc co mạch Adrénaline 1:100.000, mở vạt, khoan
xương có hay không kèm cắt răng, nạy răng và
khâu kín vết thương.
Sau khi
phẫu thuật: ghi toa thuốc kháng sinh và giảm
đau giống nhau cho mọi bệnh nhân gồm: Amoxicilline 500mg, 15 viên, ngày uống
3 lần, mỗi lần 1 viên; Ibuprofen 400mg, 9 viên, ngày uống
3 lần, mỗi lần 1 viên; Mỗi bệnh nhân được
phát một phiếu hướng dẫn bệnh nhân và một
trang nhật kư phẫu thuật và yêu cầu điền
đầy đủ các thông tin về đau theo hướng
dẫn của bác sĩ trong ṿng 14 ngày sau phẫu thuật.
Bệnh nhân được theo dơi để đo mức
độ sưng mặt trong 14 ngày sau phẫu thuật.
Để đảm bảo cho các thông tin được
thu thập đầy đủ, chính xác, bệnh nhân
được cung cấp số điện thoại để
được hướng dẫn cụ thể hơn khi
gặp thắc mắc và sẽ được nhắc nhở
bằng điện thoại trong 14 ngày sau phẫu thuật.
Sau 14 ngày sẽ thu lại nhật kư phẫu thuật.
Đánh giá kết quả
Tiêu
chuẩn đánh giá: các đối tượng
nghiên cứu phải điền các thông tin trên trang nhật
kư và được đo mức độ sưng mặt
đầy đủ mới được tính vào mẫu
nghiên cứu.
- Giới tính.
- Cảm nhận đau: thông tin về đau: mức độ đau nhiều nhất của bệnh nhân được đánh giá với thang Likert 7 điểm từ “không đau” đến “đau không thể tượng tượng nổi”. Thời điểm hết đau là ngày bệnh nhân báo cáo “một ít hoặc không có khó chịu nào về đau” (tương ứng điểm 0-không đau hoặc điểm 1-hơi khó chịu trên thang Likert 7 điểm).
- Mức độ sưng mặt: được xác định hàng ngày bằng cách dùng thước dây đo theo độ lồi của má (được làm tṛn đến vạch mm gần nhất) theo chiều dọc: khoảng cách từ góc hàm đến góc mắt ngoài. Theo chiều ngang: khoảng cách từ chân dái tai đến khóe miệng.
Các thông tin và
số liệu thu thập được phân tích và xử
lư theo phương pháp thống
kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0.
Thống
kê mô tả: t́nh trạng đau và sưng sau phẫu thuật nhổ
răng khôn hàm dưới mọc lệch.
Thống kê suy lư:
- - So sánh sự khác biệt giữa nam và nữ về cảm nhận đau trong 14 ngày sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch bằng kiểm định c2, sự khác biệt có ư nghĩa thống kê khi p<0,05.
- Đánh giá sự thay đổi mức độ sưng mặt sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch ở các thời điểm 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày, 7 ngày sau phẫu thuật so với trước phẫu thuật:
-
Phân tích ANOVA một yếu tố có
lặp kết hợp phương pháp Greenhouse-Geisser, t test
bắt cặp kết hợp phương pháp Bonferroni trong đo lường một
yếu tố có lặp:
Công thức Bonferroni: C=k!/2!(k-2)! (k: số lần
đo lường có lặp lại; Kiểm định thống
kê có ư nghĩa khi p(T)<0,05/C)
Áp dụng vào nghiên cứu
này: k=8 (8 lần đo lường lặp lại vào các ngày
0,1,2,3,4,5,6,7 sau phẫu thuật) ![]()
Do đó kiểm định có ư nghĩa khi
p(T) < 0,0018
So sánh sự khác biệt về mức độ sưng mặt theo chiều dọc và chiều ngang giữa nam và nữ trong 14 ngày sau phẫu thuật bằng t test giữa 2 mẫu độc lập, sự khác biệt có ư nghĩa thống kê khi p<0,05
Từ tháng 03/2008 đến tháng 04/2008 có tổng cộng
50 bệnh nhân (15 nam, 35 nữ) tuổi từ 19-39 đáp ứng
đầy đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu.
Bảng 1. Số liệu bệnh nhân phẫu
thuật nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch
|
|
n |
% |
|
Nữ |
15 35 |
30% 70% |
|
Tuổi |
24,0 ± 4,3 |
|
Chúng tôi nhận thấy có 46 bệnh nhân
(92%) đau nhiều nhất vào ngày thứ nhất sau phẫu
thuật, ngoài ra có 2 bệnh nhân (4%) đau nhiều nhất
vào ngày thứ 2 sau phẫu thuật, có 1 bệnh nhân (2%)
đau nhiều nhất vào ngày thứ 3 sau phẫu thuật,
có 1 bệnh nhân (2%) đau nhiều nhất vào ngày thứ 5
sau phẫu thuật.
Không có sự khác biệt có ư nghĩa thống
kê về tỷ lệ % giữa nam và nữ theo thời
điểm đau nhiều nhất sau phẫu thuật
(p>0,05) (Bảng 2)
Bảng 2. Phân bố tỷ
lệ % bệnh nhân theo thời điểm
đau nhiều nhất sau phẫu thuật
|
|
Thời điểm
bệnh nhân đau nhiều nhất sau phẫu thuật
(ngày sau phẫu thuật) |
Tổng cộng |
|||||||||||||
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
||
|
|
13 86,7% |
1 6,7% |
0 |
0 |
1 6,7% |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
15 100% |
|
Nữ |
33 94,3% |
1 2,9% |
1 2,9% |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
35 100% |
|
Tổng cộng |
46 92% |
2 4% |
1 2% |
0 |
1 2% |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
50 100% |
Kiểm
định c2, p=0,360
Kết quả ghi nhận có 31 bệnh
nhân (62%) đau nhiều nhất từ mức độ 2
(đau nhẹ) đến mức độ 3 (đau trung
b́nh), 16 bệnh nhân (32%) đau nhiều nhất từ mức
độ 4 đến mức độ 5 (đau nhiều
đến đau rất nhiều), chỉ có 4 bệnh nhân
(8%) đau ở mức độ 1 (hơi khó chịu) và 1
bệnh nhân (2%) đau ở mức độ 6 (đau không
thể tưởng tượng nổi). Không có sự khác
biệt có ư nghĩa thống kê về tỷ lệ % giữa
nam và nữ theo mức độ đau nhiều nhất
sau phẫu thuật (p>0,05). (Bảng.3)
Bảng
3. Phân bố tỷ lệ % bệnh nhân
theo mức độ đau nhiều nhất sau phẫu thuật
|
|
Mức độ đau nhiều nhất theo phân loại
thang Likert |
|||||||
|
0 |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
Tổng cộng |
|
|
|
0 |
0 |
5 (33,3%) |
4 (26,7%) |
4 (26,75) |
2 (13,3%) |
0 |
15 (100%) |
|
Nữ |
0 |
2 (5,7%) |
8 (22,9%) |
14 (40%) |
6 (17,1%) |
4 (11,4%) |
1 (2,9%) |
35 (100%) |
|
Tổng cộng |
0 |
2 (4%) |
13 (26%) |
18 (36%) |
10 (20%) |
6 (12%) |
1 (2%) |
50 (100%) |
Kiểm
định c2, p=0,74
Có 33 bệnh nhân (66%) bắt đầu hết đau từ
ngày 1 đến ngày 3 sau phẫu thuật, có thêm 15 bệnh
nhân (30%) bắt đầu hết đau từ ngày 4 đến
ngày 7, chỉ có 1 bệnh nhân bắt đầu hết
đau vào ngày thứ 10 và 1 bệnh nhân bắt đầu hết
đau vào ngày thứ 13 sau phẫu thuật. Không có sự
khác biệt có ư nghĩa thống kê về tỷ lệ % giữa
nam và nữ về thời điểm bắt đầu hết
đau sau phẫu thuật (p>0,05). (Bảng 4).
Bảng
4. Phân bố tỷ lệ % bệnh nhân
theo thời điểm bắt đầu hết đau sau
phẫu thuật
|
|
Thời điểm
bệnh nhân bắt đầu hết đau sau phẫu
thuật (ngày) |
|
|||||||||||||
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
Tổng cộng |
|
|
|
0 0% |
8 53,3% |
4 26,7% |
0 |
0 |
0 |
2 13,3% |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 6,7% |
0 |
15 100% |
|
Nữ |
2 5,7% |
9 25,7% |
10 28,6% |
5 14,3% |
2 5,7% |
4 11,4% |
2 5,7% |
0 |
0 |
1 2,9% |
0 |
0 |
0 |
0 |
35 100% |
|
Tổng cộng |
2 4% |
17 34% |
14 28% |
5 10% |
2 4% |
4 8% |
4 8% |
0 |
0 |
1 2% |
0 |
0 |
1 2% |
0 |
50 100% |
Kiểm định c2, p=0,223.
Có sự khác biệt có ư nghĩa thống
kê về mức độ sưng mặt theo chiều dọc
giữa các thời điểm. Mức độ sưng mặt
theo chiều dọc thay đổi có ư nghĩa thống kê từ
ngày 1 đến ngày thứ 5 sau phẫu thuật so với
trước phẫu thuật (ngày 0). Mức độ
sưng mặt theo chiều dọc thay đổi không có ư
nghĩa thống kê khi so sánh trong 3 ngày: từ ngày 1 đến
ngày 3 sau phẫu thuật và khác biệt có ư nghĩa thống
kê so với các ngày c̣n lại. Như vậy, mức độ
sưng mặt theo chiều dọc tăng cao nhất từ
ngày 1 đến ngày 3 sau phẫu thuật, sau đó giảm
dần và trở về giá trị trước phẫu thuật
vào ngày thứ 6 sau phẫu thuật (Bảng 5 và biểu
đồ 1). Không có sự khác biệt có ư nghĩa thống
kê giữa nam và nữ về mức độ sưng mặt
theo chiều dọc trong cả 14 ngày sau phẫu thuật (Bảng
6).
Bảng
5. Mức độ sưng mặt theo
chiều dọc trong 7 ngày sau phẫu thuật so với
trước phẫu thuật
|
Ngày |
Mức độ
sưng mặt theo chiều dọc (mm) (+) |
Sự thay đổi
mức độ sưng mặt theo chiều dọc (mm) |
|
0 |
109,4 + 8,6 |
|
|
1(*)(-) |
112,3+ 7,9 |
3,0+ 2,6 |
|
2(*)(-) |
112,4 +7,9 |
3,0 + 3,0 |
|
3(*)(-) |
111,5+7,9 |
2,1+ 2,4 |
|
4(*) |
110,7+8,2 |
1,3+2,2 |
|
5(*) |
109,9+8,4 |
0,6+1,0 |
|
6(¤) |
109,6+8,4 |
0,2+0,6 |
|
7(¤) |
109,5+8,4 |
0,1+0,5 |
Ghi chú: Kể từ ngày thứ 8 sau phẫu thuật, ở tất cả bệnh nhân, các kích thước đánh giá mức độ sưng mặt theo chiều dọc đều trở lại giá trị trước phẫu thuật
(+): Phân tích ANOVA một yếu
tố có lặp (kết hợp phương pháp
Greenhouse-Geisser), p<0,001. (*): So sánh với thời
điểm trước phẫu thuật, kiểm định
t test bắt cặp (kết hợp với phương pháp
Bonferroni trong đo lường 1 yếu tố có lặp),
p< 0,0018. (¤): So sánh với thời điểm
trước phẫu thuật, p>0,0018. (-):
So sánh giữa các thời điểm ngày 1, 2, 3 sau phẫu
thuật với nhau, p>0,0018.
Bảng 6. Sự thay đổi
mức độ sưng mặt theo chiều
dọc giữa
|
Ngày |
Sự thay đổi
mức độ sưng mặt theo chiều dọc (mm) |
P |
|
|
|
Nữ (n=35) |
||
|
1 |
3,3+2,6 |
2,8+2,6 |
0,53 |
|
2 |
3,1+4,1 |
2,9+2,5 |
0,84 |
|
3 |
1,8+2,5 |
2,3+2,4 |
0,52 |
|
4 |
1,6+2,0 |
1,2+2,3 |
0,59 |
|
5 |
0,9+1,1 |
0,4+1,0 |
0,16 |
|
6 |
0,4+0,9 |
0,2+0,5 |
0,37 |
|
7 |
0,3+0,8 |
0,06+0,24 |
0,33 |
Ghi chú: Kể
từ ngày thứ 8 sau phẫu thuật, ở tất cả
bệnh nhân, các kích thước đánh giá mức độ
sưng mặt theo chiều dọc đều
trở lại giá trị trước phẫu thuật
Có sự khác biệt có ư nghĩa thống
kê về mức độ sưng mặt theo chiều ngang
giữa các thời điểm. Mức độ sưng mặt
theo chiều ngang thay đổi có ư nghĩa thống kê từ
ngày 1 đến ngày 5 sau phẫu thuật so với trước
phẫu thuật (ngày 0). Mức độ sưng mặt
theo chiều ngang thay đổi không có ư nghĩa thống kê
khi so sánh giữa ngày 1, 2 sau phẫu thuật và khác biệt
có ư nghĩa thống kê so với tất cả các ngày c̣n lại.
Như vậy, mức độ sưng mặt chiều
ngang tăng cao nhất từ ngày 1 đến ngày 2 sau phẫu
thuật sau đó giảm dần và trở về giá trị
trước phẫu thuật vào ngày thứ 6 sau phẫu thuật.
(Bảng 7 và biểu đồ 1). Không có sự khác biệt
có ư nghĩa thống kê giữa nam và nữ về mức
độ sưng mặt theo chiều ngang trong cả 14 ngày
sau phẫu thuật (Bảng 8).
Bảng
7. Mức độ sưng mặt theo
chiều ngang trong 7 ngày sau phẫu thuật so với trước
phẫu thuật
|
Ngày |
Mức độ
sưng mặt theo chiều ngang (mm)(+) |
Sự thay đổi
mức độ sưng mặt theo chiều ngang (mm) |
|
0 |
100,82+6,89 |
|
|
1(*)(-) |
104,3+7,3 |
3,4 + 2,9 |
|
2(*)(-) |
104,9+6,5 |
4,1 +2,9 |
|
3(*) |
103,2+6,5 |
2,3+2,4 |
|
4(*) |
102,4+6,5 |
1,5+2,2 |
|
5(*) |
101,8+6,6 |
1,0+1,8 |
|
6(¤) |
101,4+6,8 |
0,6+1,5 |
|
7(¤) |
100,9+6,8 |
0,1+0,4 |
Ghi chú: Kể từ ngày thứ 8 sau phẫu thuật, ở
tất cả bệnh nhân, các kích thước đánh giá mức
độ sưng mặt theo chiều
ngang đều trở lại giá trị trước phẫu
thuật
(+): Phân tích ANOVA một
yếu tố có lặp (kết hợp phương pháp Greenhouse-Geisser), p<0,001
(*): So sánh với thời điểm trước phẫu
thuật, kiểm định t test bắt cặp (kết hợp
với phương pháp Bonferroni trong đo lường 1 yếu
tố có lặp), p< 0,0018.
(¤): So sánh với thời điểm trước phẫu
thuật, p>0,0018.
(-) : So sánh giữa các thời điểm ngày 1và 2 sau phẫu thuật với nhau, p>0,0018.
Bảng 8. Sự thay đổi
mức độ sưng mặt theo chiều
ngang giữa
|
Ngày |
Sự thay đổi
mức độ sưng mặt theo chiều dọc (mm) |
P |
|
|
|
Nữ (n=35) |
||
|
1 |
3,6+4,1 |
3,4+2,3 |
0,84 |
|
2 |
3,9+3,6 |
4,1+2,6 |
0,38 |
|
3 |
1,9+2,5 |
2,5+2,5 |
0,33 |
|
4 |
1,1+1,8 |
1,7+2,4 |
0,33 |
|
5 |
0,9+1,9 |
1,0+1,8 |
0,95 |
|
6 |
0,9+2,1 |
0,4+1,2 |
0,40 |
|
7 |
0,1+0,5 |
0,1+0,4 |
0,72 |
Ghi chú: Kể từ ngày thứ 8 sau phẫu
thuật, ở tất cả bệnh nhân, các kích thước
đánh giá mức
độ sưng mặt theo chiều dọc đều trở
lại giá trị trước phẫu thuật

Biểu đồ 1. Sự thay đổi
mức độ sưng mặt theo chiều
dọc và chiều ngang trong 14 ngày sau phẫu
thuật so với trước phẫu thuật
Nghiên cứu đánh giá t́nh
trạng đau và sưng sau phẫu thuật nhổ
răng khôn hàm dưới mọc lệch trên 50 đối
tượng trong 14 ngày sau phẫu thuật. Bước
đầu chúng tôi rút ra được một số kết
luận như sau:
-
Thời
điểm đau nhiều nhất đa số xảy ra
vào ngày thứ nhất sau phẫu thuật nhổ răng
khôn hàm dưới mọc lệch (92%).
-
Mức
độ đau nhiều nhất sau phẫu thuật nhổ
răng khôn hàm dưới mọc lệch đa số ở
cường độ đau nhẹ đến đau trung
b́nh (66%).
-
Đa
số bệnh nhân hết đau sau 1 tuần sau phẫu thuật
nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch (96%).
-
Không
có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa nam và nữ
về thời điểm đau nhiều nhất, mức
độ đau nhiều nhất và thời điểm bắt
đầu hết đau sau phẫu thuật nhổ
răng khôn hàm dưới mọc lệch (p>0,05).
-
Mức
độ sưng mặt đạt giá trị lớn nhất
từ ngày 1 đến ngày 3 (theo chiều dọc) và vào từ
ngày 1 đến ngày 2 (theo chiều ngang) sau phẫu thuật
nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch.
-
Mức
độ sưng mặt theo chiều dọc và theo chiều
ngang trở về giá trị trước phẫu thuật
vào ngày thứ 6 sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm
dưới mọc lệch.
-
Không
có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa nam và nữ
về mức độ sưng mặt theo chiều dọc
và chiều ngang trong suốt 14 ngày sau phẫu thuật nhổ
răng khôn hàm dưới mọc lệch (p>0,05).
1. Bùi Huỳnh Anh, Nguyễn Thị Bích Lư (2004). Đánh giá hiệu quả của Lidocaine và Mepivacaine trong phẫu thuật nhổ răng khôn dưới lệch. Tuyển tập công tŕnh nghiên cứu khoa học Răng Hàm Mặt 2004: 187-194.
2. Cù Hoàng Anh, Phạm Thị Hương Loan (2004). Hiệu quả giảm đau của Meloxicam và Acetaminophen sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới lệch. Tiểu luận tốt nghiệp Bác Sĩ Răng Hàm Mặt niên khóa 1998-2004, Đại Học Y Dược TP HCM.
3. Capuzzi P, Montebugnoli L, Vaccaro MA (1994). Extraction of impacted third molars. A longitudinal prospective study on factors that affect postoperative recovery. Oral Surg Oral Med Oral Pathol; 77 (4): 341-343.
4. Grossi GB et al (2007). Assesing Postoperative Discomfort After Third Molar Surgery: A Prospective Study. J Oral Maxillofac Surg, 65: 901-917. 26.
5. Hidenichi Yuasa, Masayuki Sugiura (2004). Clinical postoperative findings after removal of impacted mandibular third molars: Prediction of postoperative facial swelling and pain based on preoperative variables. Bristish Journal of Oral and Maxillofacial Surgery, 42:209-214.
6. Hoàng Tử Hùng (2005). Cắn khớp học. Nhà xuất bản Y học, chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, 2005: 121-122.
7.
Ian Woo, Bach T Le (2005). Mangement of
complications of dental extraction. The
8. Largo-Méndes L et al (2007). Relationship between surgical difficulty and postoperative pain in lower third molar extractions. Anesth analg; 97: 163-167.
9.
Lê
Đức Lánh và cs (2007). Phẫu thuật răng miệng. Gây tê – Nhổ
răng. Nhà xuất bản Y học, chi nhánh TP. Hồ Chí
Minh: 31-42.
10. Mordechai Averbuch, Meyer Katzper (2003). Severity of baseline pain and degree of analgesia in the third molar post-extractin dental pain model. Anesth analg, 97: 163-16724.
11. Nguyễn Thị Bích Lư, Lê Đức Lánh. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tác dụng giảm đau của Nimesulide trong phẫu thuật nhổ răng khôn dưới lệch. Tuyển tập công tŕnh nghiên cứu khoa học 2000: 13-27.
12. Nguyễn Hữu Bảo Thi, Lê Đức Lánh (2004). Hiệu quả đặt ống dẫn lưu sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới. Tiểu luận tốt nghiệp Bác Sĩ Răng Hàm Mặt niên khóa 1998-2004, Đại Học Y Dược TP HCM, 2004.
13. Kirk DG, Liston PN, Tong DG, Love RM (2007). Influence of two difference flap designs on incidence of pain, swelling, trimus, and alveolar osteitis in the week following third molar surgery. Oral surg Oral Med Oral Pathol; 104: e1-e6
14. Thomson PJ, Fletcher IR et al (2003). Patient morbidity following oral day surgery- use of a post- operative telephone questionnaire. J of Ambulatory Surgery, 10: 122-127.
15. Trần Phương Hạnh (2005). Giải phẫu bệnh học, Viêm. Nhà xuất bản Y học, chi nhánh TP. Hồ Chí Minh,: 57-93.