ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GIẢM NỒNG ĐỘ CÁC HỢP CHẤT LƯU HUỲNH BAY HƠI CỦA THUỐC SÚC MIỆNG LISTERINE® VÀ THUỐC SÚC MIỆNG PROGINVEX®

Thị Hoàng Yến*, Hoàng Tử Hùng*

TÓM TẮT

Mở đầu: Đinh hương và Bạch chỉ là những vị thuốc cổ truyền Đông y dùng cho nhiều chỉ định, trong đó có đ̀u trị chứng hôi miệng. Hiện nay, hai dược liệu này được bào chế thành dung dịch Proginvex. Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng giảm nồng độ các hợp chất lưu huỳnh bay hơi - VSCs của thuốc súc miệng Listerine và thuốc súc miệng Proginvex.

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng của Listerine và Proginvex đối với nồng độ VSCs sau khi súc miệng một giờ (T1), hai giờ (T2), ba giờ (T3) và sau một tuần súc miệng đều đặn (Tt); so sánh tác dụng giảm nồng độ VSCs của Listerine và Proginvex; đánh giá các tác dụng không mong muốn và ghi nhận cảm quan về mùi vị của hai loại thuốc súc miệng trên.

Phương pháp: nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng bắt chéo, tiến hành trên 30 sinh viên khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược thành phố Hồ chí Minh, chia ngẫu nhiên vào hai nhóm thử nghiệm: súc miệng Listerine (liều súc miệng 20 ml pha loãng ½), súc miệng Proginvex (liều súc miệng 40 giọt pha trong 40 ml nước). Mỗi đối tượng trong hai nhóm thử nghiệm đều lần lượt sử dụng hai loại thuốc súc miệng, xen kẽ là thời kỳ rửa. Sau thử nghiệm hai tuần không dùng thuốc súc miệng, số liệu được dùng như nhóm chứng. Nồng độ VSCs được đo bằng máy Halimeter vào các thời điểm một giờ, hai giờ, ba giờ sau khi súc miệng và sau một tuần súc miệng đều đặn.

Kết quả: trong ngày đánh giá đầu tiên, nồng độ VSCs giữa các thời điểm đo của hai nhóm Listerine Proginvex khác biệt không ý nghĩa. nhóm chứng, nồng độ VSCs giữa thời điểm T0 T2 khác biệt ý nghĩa (p<0,001). Nồng độ VSCs của nhóm Listerine thấp hơn nhóm chứng ý nghĩa ở thời điểm T2 (p<0,001), T3 (p<0,05). Nồng độ VSCs của nhóm Proginvex thấp hơn nhóm chứng có ý nghĩa ở thời điểm T2 (p<0,05). Sau ̣t tuần súc miệng đều đặn, nồng độ VSCs của nhóm Listerine và Proginvex khác biệt không ý nghĩa (p>0,005) so với T0. Cảm nhận về vị của nhóm Proginvex tốt n nhóm Listerine. 33,3% đối tượng cảm thấy vị Listerine khó chịu 20% cảm thấy vị rất khó chịu; 56,7% cho biết cảm giác cay   43,3% cảm giác bỏng rát khi súc miệng Listerine.

Kết luận: nồng độ VSCs giảm sau khi súc miệng Listerine và Proginvex một giờ, hai giờ, ba giờ so với không súc miệng; sự khác biệt có ý nghĩa ở thời điểm hai giờ và ba giờ đối với Listerine và ở thời điểm hai giờ đối với Proginvex. Không nhận thấy hiệu quả giảm nồng độ VSCs sau một tuần súc miệng đều đặn với cả hai loại thuốc trên. Tác dụng giảm nồng độ VSCs của Listerine và Proginvex khác biệt không có ý nghĩa.

Từ khóa: hợp chất lưu huỳnh bay hơi – VSCs, chứng hôi miệng, Listerine, Proginvex, súc miệng, máy Halimeter.

ABSTRACT

ASSESS THE EFFECT OF LISTERINE AND PROGINVEX ON THE CONCENTRATION OF VSCS


Vo Thi Hoang Yen, Hoang Tu Hung
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Suppl
ement of No 1-2010: 322 - 327

Background: the Angelique and Giroflier are herbs used in many medicinal indications, including the treatement of halitosis. Thesedays, they are prepared in the product named Proginvex. We conducted this topic to assess the effect of Listerine and Proginvex on the concentration of VSCs.

Objectives: assess the effect of Listerine and Proginvex on the concentration of VSCs an hour, two hours, three hours after rinsing and after a week of daily rinsing; compare that effect of Listerine and Proginvex; assess undesirable effects and opinions on the smell and the taste of Listerine and Proginvex.

 Method: the crossover clinical trial was carried out on 30 students of the Faculty of Odonto Stomatology, University of Science Mediacales Ho Chi Minh City. They were randomly selected in two test groups Listerine (dose of 20ml rinse diluted ½) and Proginvex (dose of 1.5ml diluted 1/26). Each subject of the two groups will use in turn these two mouthwash. After each period, a rest period will take one week before starting the next one. After two week without rinsing, these events are used as controlers. The concentration of VSCs is measured by Halimeter before washing, at time points an hour, two hours, three hours after rinsing and after a week of daily rinsing. Results: there was no significant difference between time points of mesurement in VSCc of groups Listerine and Proginvex. In controller, the values of VSCc measured at T0 and T2 are significantly different (p<0.001). The value of Listerine VSCc is significantly lower than that of controller at T2 (p<0.001), T3 (p<0.05). So is Proginvex at T2 (p<0.05). At Tt, VSCc of two groups are not significantly different (p>0.05) comparing with that at T0. The taste of Proginvex is commentid to be more agreeable than that of Listerine. 33.3% of subject feel uncomfortable with taste of Listerine, 20% feel terrible; 56.7% of subject remark to be hot and 43.3% remark to be burned once rinsing with Listerine.

Conclusion: the VSCs decreased one hour, two hours, three hours after rinsing with Listerine and Proginvex comparing with the condition of no rinsing, but the difference was only significant three hours after rinsing with Listerine, two hours after rinsing with Proginvex. There were no decrease in concentration of VSCs after a week of daily rinsing. The effect of Listerine and Proginvex is not significantly different.

Keywords: VSCs, halitosis, Listerine, Proginvex, rinsing, Halimeter.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Hôi miệng ảnh hưởng đến hàng triệu người trên thế giới và là một trong những than phiền chính của bệnh nhân khi tìm đến nha sĩ. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng nguyên nhân chính gây ra hôi miệng là những phân tử có mùi bay hơi (bao gồm các hợp chất lưu huỳnh và các axít hữu cơ) được sinh ra từ các vi khuẩn trong môi trường miệng, chủ yếu là những vi khuẩn trên bề mặt lưng lưỡi(2,3). Vì vậy, việc đưa tác nhân kháng khuẩn vào thuốc súc miệng cũng là một biện pháp hữu hiệu chống hôi miệng, bên cạnh các biện pháp vệ sinh răng miệng cơ học như chải răng, chải lưỡi.

Hiện nay, phần lớn các thuốc súc miệng đ̀u trị là những sản phẩm công nghiệp. Trong đó, Listerine được xem là loại thuốc súc miệng có hiệu quả kháng khuẩn hàng đầu, được chứng nhận bởi ADA (Hiệp hội Nha Khoa Hoa Kỳ) vào năm 1987(1,3,4). Nghiên cứu của Fine DH và cộng sự (2005) đã cho thấy tác dụng đ̀u trị hôi miệng lâu dài của Listerine. Bên cạnh đó, trong xu hướng phát triển các ứng dụng y học cổ truyền và các liệu pháp đ̀u trị bằng thảo dược, tinh dầu đã được chứng minh hiệu quả kháng khuẩn phộ̉ng qua nhiều nghiên cứu trên thế giới(3,4). Những hỗn hợp tinh dầu chanh, trà xanh và bạc hàđã được đề nghị sử dụng để đ̀u trị hơi thở hôi. Đinh hương, Bạch chỉ cũng là những thảo dược có chứa tinh dầu, từ lâu đã được dùng trong các bài thuốc dân gian chữa chứng hôi miệng(2,5,6). Hai loại thảo dược này được chiết xuất toàn phần, kết hợp bào chế thành dạng dung dịch súc miệng Proginvex.

ĐỐI TƯỢNG -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: 30 sinh viên khoa Răng Hàm Mặt ĐHYD Tp.HCM, trong độ tuổi từ 18 – 24, thỏa các tiêu chí: không có bệnh toàn thân (bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, tiểu đường...); không sử dụng thuốc điều trị toàn thân, tại chỗ; không có bệnh lý vùng miệng (bệnh nha chu, lở loét, áp xe…); không những biến dạng thông thường (lưỡi bản đồ, lưỡi lông…) và những tổn thương cơ bản (dát sắc tố, mụn mủ, mụn nước, vết loét…) ở lưỡi, nướu, niêm mạc khẩu cái và niêm mạc miệng; không sử dụng thuốc súc miệng trong khoảng thời gian một tuần trước khi tham gia nghiên cứu; không mang khí cụ chỉnh hình; không mang hàm giả.

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cu th nghim lâm sàng bt chéo.

Phương pháp tiến hành

Cách pha thuốc: với Listerine, pha 20 ml thuốc trong 20 ml nước, súc miệng trong 30 giây hai lần mỗi ngày sau khi chải răng. Với Proginvex, pha 40 giọt thuốc trong 40 ml nước, súc miệng trong 30 giây hai lần mỗi ngày sau khi chải răng.

Các thời kỳ thử nghiệm: 30 đối tượng nghiên cứu được chia thành hai nhóm (mỗi nhóm gồm 15 đối tượng), đều trải qua ba đợt đánh giá nồng độ VSCs, giữa đợt một và đợt hai là thời kỳ rửa một tuần. Sau đợt sử dụng thuốc súc miệng thứ nhất, hai nhóm bắt chéo (nhóm súc miệng Proginvex chuyển sang súc miệng Listerine và nhóm súc miệng Listerine chuyển sang súc miệng Proginvex). Sau hai đợt sử dụng thuốc súc miệng là thời kỳ rửa hai tuần. Đợt đánh giá thứ ba của cả hai nhóm được sử dụng như nhóm chứng. Sau ba đợt đánh giá, số liệu được tổng hợp thành ba nhóm (Listerine, Proginvex và chứng).

Sau một tuần súc miệng với thuốc Listerine và Proginvex, mỗi đối tượng nghiên cứu được khám và ghi nhận biểu hiện của dị ứng nếu có (lưỡi bản đồ, mụn nước, bóng nước, hồng ban…); vết chợt, vết loét; vết dính trên răng, miếng trám và niêm mạc. Ngoài ra, mỗi đối tượng nghiên cứu sẽ đưa ra cảm nhận về mùi và vị ở năm mức độ (rất khó chịu, khó chịu, chấp nhận được, dễ chịu, rất dễ chịu), và đưa ra nhận xét chung.   

Phương pháp thu thập số liệu: các đối tượng được đánh giá vào các thời điểm:

Ngày súc miệng đầu tiên của một đợt (Listerine hoặc Proginvex): trước khi súc miệng (T0); một giờ sau khi súc miệng (T1); hai giờ sau khi súc miệng (T2); ba giờ sau khi súc miệng (T3).

Đánh giá sau một tuần (Tt): kết thúc đợt súc miệng một tuần bằng Listerine hoặc Proginvex, đối tượng được đo VSCs vào ngày đầu tiên của tuần tiếp theo (thời kỳ rửa thứ nhất và thứ hai). Đánh giá sau một tuần giúp thu thập số liệu về VSCs sau một tuần súc miệng đều đặn.

Đánh giá sau thời kỳ rửa thứ hai (kéo dài hai tuần): các đối tượng được đo VSCs tại các thời điểm T0, T1, T2, T3. Số liệu của đợt này được coi là số liệu chứng, giúp thu thập số liệu về sự thay đổi VSCs sau vệ sinh răng miệng thông thường.

Vào ngày đánh giá, các đối tượng nghiên cứu đều phải ăn sáng với thức ăn không có hành tỏi, gia vị có mùi, mỹ phẩm có mùi thơm, không uống những thức uống có cồn, không hút thuốc lá. Các đối tượng đều phải chải răng trước khi đo nồng độ VSCs; không ăn, uống giữa các thời điểm đo. Trong quá trình tham gia nghiên cứu, các đối tượng sử dụng bàn chải, kem đánh răng giống nhau, chải răng ba lần mỗi ngày sau khi ăn và không được sử dụng bất kỳ hình thức vệ sinh răng miệng nào khác.

KẾT QUẢ

Nồng độ VSCs vào ngày đánh giá đầu tiên

Nồng độ VSCs của ba nhóm vào ngày đánh giá đầu tiên:

Nồng độ VSCs của ba nhóm ở thời điểm T0 khác biệt không có ý nghĩa (p > 0,05) (bảng 1).

Bảng 1: Nồng độ VSCs trước khi thử nghiệm

Nhóm

T0

(VSCs: TB ± ĐLC)

p

Listerine

30,40 ± 22,81

PL/C = 0,996

Proginvex

31,37 ± 23,44

PP/C = 0,963

Chứng

29,90 ± 18,78

PL/P = 0,984

p: phân tích ANOVA một yếu tố kết hợp phương pháp Tukey

Trong ngày đánh giá đầu tiên, nhìn chung nồng độ VSCs trung bình của mỗi nhóm đều gia ng so với ban đầu. Nồng độ VSCs của hai nhóm Listerine Proginvex đều nhỏ n so với nhóm chứngcác thời điểm một giờ, hai giờ, ba giờ sau khi súc miệng (đồ thị 1).

 

Đồ thị 1: Sự thay đổi nồng độ VSCs của ba nhóm theo thời gian.

Nồng độ VSCs giữa các thời điểm đo của hai nhóm Listerine Proginvex khác biệt không ý nghĩa. nhóm chứng, nồng độ VSCs giữa thời điểm T0 T2 khác biệt ý nghĩa (p < 0,001).

Nồng độ VSCs của nhóm Listerine so với nhóm chứng vào ngày đánh giá đầu tiên

thời điểm T2, nồng độ VSCs của nhóm Listerine giảm so với trước khi súc miệng, nhưng s khác biệt không ý nghĩa. Nồng độ VSCs của nhóm Listerine nhóm chứng khác biệt ý nghĩa ́t lớn (p < 0,001). Ở thời điểm T3, nồng độ VSCs giữa nhóm Listerine nhóm chứng khác biệt ý nghĩa (p < 0,05) (bảng 2).

 

Bảng 2: Nồng độ VSCs vào ngày đánh giá đầu tiên của nhóm Listerine và nhóm chứng.

 

VSCs (TB ± ĐLC)

Nhóm

T0

T1

T2

T3

Listerine

30,40 ± 22,81

32,77 ± 26,89

29,67 ± 24,41

31,30 ± 26,48

Chứng

29,90 ± 18,78

40,47 ± 28,39

55,00 ± 26,07

49,60 ± 29,85

P

0,996

0,506

<0,001(***)

0,024(*)

p: Phân tích ANOVA một yếu tố kết hợp phương pháp Tukey.

Tỷ lệ % đối tượng giảm nồng độ VSCs của nhóm Listerine cao n nhóm chứngcác thời điểm. Trong đó, s khác biệt giữa nhóm Listerine nhóm chứng ý nghĩa thời điểm hai giờ sau khi súc miệng (p < 0,01) ba giờ sau khi súc miệng (p < 0,05) (bảng 3).

Text Box: Nồng độ VSCs (ppb)

Thời điểm đo

 
Bảng 3: Tỷ lệ % đối tượng giảm nồng độ VSCs vào ngày đánh giá đầu tiên của nhóm Listerine nhóm chứng.

Tỷ lệ % giảm VSCs so với ban đầu

Nhóm

T1

T2

T3

 Listerine     n

                     %

17

56,7%

15

50%

18

60%

Chứng         n

                        %

10

33,3%

5

16,7%

9

30%

P

0,069

0,006(**)

0,02(*)

p: kiểm định χ2.

p: phân tích ANOVA một yếu ́ lặp kết hợp phương pháp Bonferroni.

Nồng độ VSCs của nhóm Proginvex so với nhóm chứng vào ngày đánh giá đầu tiên:

Nồng độ VSCs của nhóm Proginvex thấp hơn nhóm chứng ở các thời điểm T1, T2, T3. Trong đó, sự khác biệt có ý nghĩa ở thời điểm T2 (p < 0,05) (bảng 4).

Bảng 4: Nồng độ VSCs vào ngày đánh giá đầu tiên của nhóm Proginvex và nhóm chứng.

VSCs (TB ± ĐLC)

Nhóm

T0

T1

T2

T3

Proginvex

31,37 ± 23,44

35,50 ± 24,68

37,63 ± 22,94

39,50 ± 22,72

Chứng

29,90 ± 18,78

40,47 ± 28,39

55,00 ± 26,07

49,60 ± 29,85

P

0,963

0,755

0,020(*)

0,308

 

 p: Phân tích ANOVA một yếu tố́t hợp phương pháp Tukey.         

Số đối tượng giảm VSCs của nhóm Proginvex cao n nhóm chứngthời điểm một giờ, hai giờ sau khi súc miệng, thấp n nhóm chứngthời điểm ba giờ sau khi súc miệng. Sự khác biệt ý nghĩa thống thời điểm hai giờ (p < 0,05) (bảng 5).      

Bảng 5: Tỷ lệ % đối tượng giảm nồng độ VSCs vào ngày đánh giá đầu tiên của nhóm Proginvex nhóm chứng.

                Tỷ lệ % giảm VSCs so với ban đầu

Nhóm

T1

T2

T3

Proginvex   n

                  %

14

46,7%

12

40%

8

26,7%

Chứng         n

                  %

10

33,3%

5

16,7%

9

30%

p

0,292

   0,045(*)

0,774

p: kiểm định χ2.

Nồng độ VSCs sau một tuần súc miệng đều đặn

So sánh nồng độ VSCs trước sau một tuần súc miệng với Listerine hoặc Proginvex, không thấy sự khác biệt ý nghĩa (p > 0,005). Ở mỗi thời điểm T0 Tt, nồng độ VSCs của nhóm Proginvex đều cao n nhóm Listerine nhưng s khác biệt không ý nghĩa (p > 0,05) (Bảng 6).

Bảng 6: Nồng độ VSCs trung bình của nhóm Listerine nhóm Proginvex trước khi súc miệng sau một tuần súc miệng đều đặn.

VSC (TB ± ĐLC)

Nhóm

T0

Tt

p2

Listerine

30,40 ± 22,81

31,33 ± 22,21

0,826

Proginvex

31,37 ± 23,44

41,37 ± 23,51

0,038

p1

0,984

0,095

 

p1: phân tích ANOVA một yếu tố kết hợp phương pháp Tukey.

 p2: phân tích ANOVA một yếu tố lặp kết hợp phương pháp Bonferroni.

Tỷ lệ % đối tượng giảm nồng độ VSCs của nhóm Listerine cao n ý nghĩa so với nhóm Proginvex sau một tuần súc miệng đều đặn (p < 0,01) (bảng 7).

Bảng 7: ́ đối tượng giảm ̀ng độ VSCs của nhóm Listerine nhóm Proginvex sau một tuần súc miệng đều đặn.

Nhóm

n

%

P

Listerine

17

56,7%

0,008(**)

Proginvex

7

23,3%

p: kiểm định χ2.

Sự khác biệt giữa Listerine Proginvex về hiệu quả giảm nồng độ VSCs

Nồng độ VSCs trung bình của nhóm Listerine đều thấp hơn nhóm Proginvex ở các thời điểm một giờ, hai giờ, ba giờ sau khi súc miệng và sau một tuần súc miệng đều đặn. Nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa giữa hai nhóm (p > 0,05) (bảng 8).

Bảng 8: Nồng độ VSCs trung bình vào các thời điểm đo của nhóm Listerine nhóm Proginvex.

VSCs (TB ± ĐLC)

Nhóm

T0

T1

T2

T3

Tt

Listerine

30,40± 22,81

32,77± 26,89

29,67± 24,41

31,30± 26,48

31,33± 22,21

Proginvex

31,37± 23,44

35,50± 24,68

37,63± 22,94

39,50± 22,72

41,37± 23,51

p

0,986

0,91

0,422

0,458

0,095

p: phân tích ANOVA một yếu tố́t hợp phương pháp Tukey.          

Sau khi súc miệng Listerine, tỷ lệ % đối tượng giảm nồng độ VSCs cao hơn khi súc miệng Proginvex. Trong đó có sự khác biệt có ý nghĩa ở thời điểm ba giờ sau khi súc miệng và sau một tuần súc miệng (p < 0,01) (bảng 9).

Bảng 9: Tỷ lệ % đối tượng giảm nồng độ VSCs sau khi súc miệng vào bốn thời điểm đo ở hai nhóm Listerine và Proginvex.

Tỷ lệ % giảm VSCs so với ban đầu

Nhóm

T1

T2

T3

Tt

Listerine     n

                   %

17

56,7%

15

50%

18

60%

17

56,7%

Proginvex   n

                   %

14

46,7%

12

40%

8

26,7%

7

23,3%

P

0,438

0,436

0,009(**)

0,008(**)

p: kiểm định χ2.

Tác dụng không mong muốn và cảm nhận ̀ mùi vị của Listerine và Proginvex

Sau hai đợt súc miệng với Listerine Proginvex, không ghi nhận trường hợp nào biểu hiện dị ứng, chợt loét hay vết dính. Tuy nhiên, ghi nhận một trường hợp bị bong tróc niêm mạc niêm mạc (P), (T) môi dưới sau hai ngày sử dụng Listerine.

Kết quả ng cho thấy phần lớn cảm nhận tốt về mùi của Listerine Proginvex. Tuy nhiên, cảm nhận về vị của nhóm Proginvex tốt n nhóm Listerine. 33,3% đối tượng cảm thấy vị Listerine khó chịu 20% cảm thấy vị rất khó chịu. Ngoài ra, 56,7% đối tượng cho biết cảm giác cay   43,3% cảm giác bỏng rát khi súc miệng Listerine.

KẾT LUẬN

Đối với thuốc súc miệng Listerine pha loãng ½:

-                   Một giờ, hai giờ, ba giờ sau khi súc miệng Listerine, nồng độ VSCs thấp hơn so với khi không súc miệng; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở thời điểm hai giờ và ba giờ sau khi súc miệng.

-                   Hai giờ sau khi súc miệng Listerine, nồng độ VSCs giảm so với trước khi súc miệng; nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

-                   Nồng độ VSCs không thay đổi sau khi súc miệng Listerine đều đặn trong một tuần.

-                   Phần lớn đối tượng nhận xét Listerine có vị từ khó chịu đến rất khó chịu (63,3%); 56,7% đối tượng cho biết cảm giác cay   43,3% cảm giác bỏng rát khi súc miệng.

Đối với thuốc súc miệng Proginvex (40 giọt thuốc pha 40 ml nước):

-                   Một giờ, hai giờ, ba giờ sau khi súc miệng Proginvex, nồng độ VSCs thấp hơn so với khi không súc miệng; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở thời điểm hai giờ sau khi súc miệng.

-                   Nồng độ VSCs không thay đổi sau khi súc miệng Proginvex đều đặn trong một tuần.

-                   Đa số đối tượng cho rằng Proginvex có mùi vị chấp nhận được và dễ chịu (80%).

Đối với cả hai loại thuốc súc miệng:

Một giờ, hai giờ, ba giờ sau khi súc miệng và sau một tuần súc miệng đều đặn với Listerine, nồng độ VSCs thấp hơn so với khi súc miệng Proginvex; nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          ADA council on scientific affairs (2003). Oral malodor. J Am Dent Assoc, 134: 209-214. 

2.          Anton J. C, Weniger B, Anton R (2006). Huiles essentielles. Tn Martini MC, Seiller M, editors. Actifs et additives en cosmétologie. Paris: Lavoisier Tec et Doc édition: 189- 233.

3.          Muster D (2008). Antiseptiques en chirurgie dentaire et stomatologie. EMC Stomatologie/ Odontologie, 22-012-A-10.

4.          Slama L. B. Listerine (2006). Service de stomatologie et chirurgie maxillofaciale, hôpital de la Salpêtrière, Paris, 107: 59-61.

5.          Viện dược liệu (2004). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. 29- 131, 791- 792.

6.          Võ Văn Chi (1997). Từ điển cây thuốc Việt Nam. 17- 19, 95- 97.