Nguyễn Hoàng Linh*, Bùi Mỹ Linh*
Mục tiêu: Hạt Đậu nành (Glycine max) là nguồn nguyên liệu
chứa nhiều genistein, đây là một loại isoflavonoid
có hoạt tính estrogen, được dùng như một liệu
pháp hormon thay thế HRT (hormone replacement therapy). Những thử nghiệm dược lư đă chứng
minh các flavonoid trong mầm hạt Đậu nành có thể hỗ
trợ cho các trường hợp thiểu năng estradiol trên chuột thí
nghiệm.
Đối tượng &phương
pháp nghiên cứu: Thử nghiệm trên chuột nhắt
trắng với test Elisa, Atswood và thử nghiệm khảo
sát tác động của estradiol trên sự tăng trọng.
Kết quả: Thử nghiệm ELISA đă chứng minh rằng cho
chuột nhắt trắng dùng bột mầm Đậu nành
sau 15 ngày có tác dụng phục hồi sự giảm hàm
lượng estradiol trên chuột bị giảm năng sinh dục, không
thể hiện tác dụng kiểu estrogen trên chuột b́nh
thường. Bằng thử nghiệm ATSWOOD cho thấy bột
mầm Đậu nành làm tăng trọng lượng tử cung
trên cả những chuột b́nh thường cũng như chuột gây giảm
năng sinh dục do bị cắt bỏ hai noăn sào. Bên cạnh
đó với thử nghiệm khảo sát tác động của
estradiol trên sự tăng
trọng có thể sơ bộ kết luận
rằng bột mầm hạt Đậu nành có tác dụng
làm giảm sự tăng
trọng ở
những chuột giảm năng sinh dục do cắt bỏ 2 noăn sào.
Kết luận: Qua kết quả có được bằng các thử
nghiệm trên có thể khẳng định bột mầm
hạt Đậu nành có tác dụng của một
phytoestrogen.
Từ khóa: Hoạt tính estrogen, mầm hạt đậu nành, HRT, thử nghiệm ELISA, thử nghiệm Atswood, chuột bị giảm năng sinh dục, noăn sào chuột.
ESTROGENIC-ACTIVITY TESTS
OF SOYABEAN SPROUT
Nguyen
Hoang Linh, Bui My Linh *Y Hoc TP. Ho Chi Minh *Vol. 14 - Supplement of No 1-2010:
73 – 79
Introduction: Soyabean (Glycine max) is the main source of genistein extraction.
This is an estrogenic-activity isoflavonoid, used as a HRT (hormone replacement
therapy). Pharmacological tests revealed the flavonoids in Soyabean sprouts
(S.S) can help in the deficient-estradiol cases on the tested mice.
Methods & Materials: Mice, Elisa test, Atswood test and the test of estradiol activity on
the weight
Results: ELISA test
proved that the utilization of S.S during 15 days only has the effect in
recovery of estradiol on the estrogen-deficiency-induced mice, without the
estrogenic-activity on the normal mice. ATSWOOD test showed the S.S is the
evidence in uterus-weight increasing not only normal but also Besides, with the
of the test mice , preliminarily conclusion the S.S
have the action of decreased-weight in estrogen-deficiency-induced,
ovariectomized mice.
Conclusion: The
approved-results from above tests showed the S.S have the action of a phytoestrogen.
Keywords: estrogenic-activity, Soyabean sprout, HRT, test ELISA, test ATSWOOD, estrogen-deficiency-induced mice, ovariectomized mice

Liệu pháp hormon thay thế được
dùng cho những phụ nữ ở độ tuổi tiền
măn kinh và măn kinh(2) để
hạn chế các rối loạn do thiếu estrogen gây ra.
Phytoestrogen từ hạt Đậu nành có hoạt tính tạo
ra hormon nữ, giúp cho sự hoạt động của
cơ thể do có thể gắn vào thụ thể
estrogen giúp cơ thể sản sinh ra
estradiol. Tác động này là do sự hiện diện của
isoflavonoid có tên là genistein (4),(5). Trong hạt Đậu nành genistein ở dưới
dạng glycosid là genistin tác động gắn kết vào các
thụ thể rất hạn chế. Trong
nghiên cứu này cho thấy những enzym có trong hạt Đậu
nành nảy mầm sẽ thúc đẩy sự tạo thành
estradiol trong chuột thử nghiệm đă được
cắt bỏ hai noăn sào. Kết quả thực nghiệm
được đánh giá bằng test Elisa và thử nghiệm
Astwood.
Nguyên liệu dùng trong các thử
nghiệm là bột định chuẩn mầm hạt
Đậu nành(6) do Công
ty Nghiên cứu Sản xuất Dược liệu Miền
Trung cung cấp. Bột mịn có màu vàng hơi xanh lá, vị nhạt hơi béo, mùi thơm. Độ
ẩm 4,5 % (sản xuất ngày 25-03-2009,
PKN số 4770909-HDV).
Thuốc
đối chiếu dùng trong nghiên cứu là Progynova, hàm
lượng 2 mg Estradiol valerate/viên (hăng Bayer Schering Pharma).
Bộ KIT
Elisa của hăng Human (Đức). Máy đọc Elisa hiệu Biotek Elx
808 (USA)
Chuột
nhắt trắng giống cái, chủng Swiss albino 5-6 tuần
tuổi, thể trọng trung b́nh 22 ± 2g do Viện vắc
xin và sinh phẩm y tế Nha Trang cung cấp. Chuột
được cho ăn uống b́nh thường và để ổn định
ít nhất một tuần trước khi thử nghiệm.
Phương pháp chung
Chỉ
tiêu để đánh giá hoạt tính estrogen là định
lượng hàm lượng estradiol tự do trong mẫu huyết
tương hay huyết thanh (test Elisa) (3),(1)
và khảo sát sự thay đổi của trọng lượng
tử cung (test Astwood)(7). Bên cạnh đó sự
thay đổi thể trọng của thuốc thử nghiệm
trước và sau khi uống thuốc cũng được ghi nhận.
Việc
đánh giá này được thực hiện trên 2 cơ địa:
Động vật b́nh thường và động vật bị
giảm chức năng sinh dục (cắt bỏ 2
noăn sào).
Khảo sát thời điểm nghiên cứu.
Liều cho uống: qua tham khảo và thử nghiệm
cho thấy LD50 đường uống của mầm Đậu
nành trên chuột nhắt trắng là 500 mg/kg, các liều thử
nghiệm được chọn là 10 mg/kg và 50 mg/kg thể
trọng. Bột được ḥa trong nước cất
và dầu olive. Liều uống của thuốc đối
chiếu là 0,5 mg/kg thể trọng, pha trong dầu olive.
Tiến hành:
Chuột được chia thành các lô, mỗi lô từ
10-15 con.
Chuột b́nh thường
- Lô
chứng uống nước cất.
- Lô
thử uống bột mầm Đậu nành liều 50
mg/kg.
- Lô đối
chiếu uống Estradiol valerate.
Chuột gây giảm năng sinh dục tiến hành
tương tự
như lô chuột b́nh
thường, nhưng lô thử
có thêm liều 10 mg/kg.
Các chuột ở 2 lô được cho uống
với thể tích là 10 mg/kg/ml. Thời gian cho uống là 15 ngày
vào buổi
sáng trước khi cho ăn. Sau thời gian thử nghiệm,
tiến hành xác đinh các chỉ tiêu sau:
- Hàm
lượng estradiol trong huyết thanh pg/ml (test Elisa).
- Trọng
lượng tử cung tính bằng g% (test Astwood).
Kỹ thuật định
lượng Estradiol bằng test Elisa.
Nguyên tắc: Elisa là một kỹ thuật sinh
hóa dựa trên nguyên lư chính là tính đặc hiệu của
kháng nguyên (KN)-kháng thể (KT) dùng để phát hiện các
kháng nguyên hay kháng thể (ở đây KN là estrogen, KT chính là
KT của estrogen được đưa vào
để phát hiện
nồng độ estrogen trong mẫu) trong thử nghiệm
này estrogen trong chuột nhắt là estradiol.
Kỹ thuật định lượng
estradiol dựa trên sự tương tác
cạnh
tranh giữa estradiol và liên hợp enzym-hormon đối với
số lượng giới hạn của các kháng thể
kháng estradiol (trích tử thỏ) được cố định
sẵn trong giếng của các bộ kit. Do đó
lượng gắn của liên hợp enzym-hormon sẽ tỷ
lệ nghịch với hàm lượng estradiol trong mẫu
đo.
Sau khi ủ mẫu đo và liên hợp
enzym-hormon trong các giếng của bộ kit, phần liên hợp
enzym- hormon không gắn sẽ bị loại bỏ bằng
dung dịch rửa. Sau khi cho chất nền màu xanh
dương sẽ xuất hiện và màu
này sẽ chuyển sang màu vàng sau khi cho dung dịch dừng
phản ứng. Cường độ màu-đo bằng hệ
thống máy Elisa tự động-là tỷ lệ nghịch
với hàm lượng estradiol trong mẫu (dựa theo đường cong chuẩn estradiol ở
các nồng độ tăng dần).
Mẫu máu lấy ở đuôi chuột,
vào buổi sáng, được đem ly tâm, lấy phần
huyết thanh cho vào ống đă chứa sẵn EDTA, tiến
hành các bước cần thiết, đo bằng máy Elisa ở
bước sóng 450 nm trong 30 phút.
Trong báo cáo này chúng tôi sử dụng phương pháp Elisa
sandwich.
Phương pháp
Astwood
Tác động
estrogen của thuốc thử nghiệm được
đánh giá qua sự thay đổi trọng lượng tử
cung. Sau 15 ngày uống thuốc
thử nghiệm ở 2 lô chuột (lô b́nh thường và
lô cắt bỏ noăn sào), tiến hành tách mổ tử cung,
cân. Tính trọng lượng trung b́nh của tử cung theo g%.
Tính toán kết quả
Các số liệu được biểu thị bằng trị số trung b́nh M ± SEM (standard Error of the mean: sai số chuẩn của giá trị trung b́nh). Và sử lư thống kê dựa vào phép kiểm T-test với P ≤ 0,05 hoặc phép kiểm ANOVA với P ≤ 0,05.
Bảng
1.
Độ hấp thu của các estradiol chuẩn có nồng độ
tăng dần
Hàm lượng estradiol chuẩn
(pg/ml) |
Độ hấp thu |
|
0 25 100 250 500 1000 2000 |
2,583 1,862 1,282 0,701 0,318 0,161 0,115 |
Dựa vào bảng này ta vẽ được đồ
thị, kết quả đo được của những
mẫu thử sẽ dựa trên đồ thị này.
Khảo
sát hàm lượng Estradiol trong các lô thử nghiệm bằng
kỹ thuật Elisa
Khảo
sát thời điểm nghiên cứu.
Qua khảo
sát cho thấy thời điểm thích hợp cho uống là
3 tuần kể từ khi cắt 2 noăn sào. Khi đó hàm
lượng estradiol nằm dưới giới hạn b́nh
thường nhưng chưa giảm đến tối thiểu (bảng
2)
Bảng
2. Hàm lượng estradiol ở chuột b́nh
thường và chuột cắt 2 noăn sào sau 2, 3 và 5 tuần
|
Lô chuột thử nghiệm N = 10-13 |
Hàm lượng estradiol(pg/ml) |
|
B́nh
thường Cắt 2
noăn sào sau 2 tuần Cắt 2
noăn sào sau 3 tuần Cắt 2
noăn sào sau 5 tuần |
8,911 ±
1,045 9,223 ±
0,423 5,617 ±
1,082* 2,830 ±
0,702* |
P < 0,05 so với chuột b́nh thường
Nhận xét
Kết quả được thể hiện trên bảng cho thấy hàm lượng estradiol sau 2 tuần của chuột cắt noăn sào và chuột b́nh thường không có sự khác biệt đạt ư nghĩa thống kê.
Sau 3 tuần cắt noăn sào hàm lượng estradiol đă giảm đi gần như phân nửa, đạt ư nghĩa thống kê so với chuột b́nh thường.
Hàm
lượng estradiol của các lô chuột bị gây giảm
năng sinh dục
Thử nghiệm được
tiến hành trên lô chuột b́nh thường và chuột giảm
năng sinh dục, kết
quả được thể hiện ở h́nh 1.

H́nh 1. Đồ thị biểu diễn hàm
lượng estradiol của các lô chuột bị gây giảm
năng sinh dục
Nhận xét
Hàm lượng
estradiol của lô chứng cắt 2 noăn sào giảm đạt
ư nghĩa thống kê so với lô chứng b́nh thường, chứng tỏ mô h́nh nghiên cứu gây giảm
năng sinh
dục đạt.
- Hàm lượng estradiol của lô uống thuốc
đối chiếu estradiol valerate liều 0,5 mg/kg cao hơn so với hàm lượng estradiol của lô chứng, đạt ư nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%.
-
Hàm lượng estradiol của lô uống bột
mầm Đậu nành liều 10 mg/kg cao hơn so với hàm
lượng estradiol của lô chứng nhưng chưa đạt ư
nghĩa thống
kê ở độ tin cậy 95%. Hàm lượng estradiol của
lô uống bột mầm Đậu nành liều 50 mg/kg cao
hơn so với hàm lượng estradiol của lô chứng đạt
ư nghĩa thống
kê ở độ tin cậy 95%. Do đó, sơ bộ kết luận
rằng bột mầm Đậu nành ở liều uống
50 mg/kg sau 15 ngày có tác dụng phục hồi sự giảm
hàm lượng estradiol trong những con chuột giảm
năng sinh dục do bị cắt 2 noăn sào.
Hàm lượng estradiol của các lô
chuột b́nh thường
Mục
đích của thử nghiệm này là nhằm khẳng định
xem sự tác động gián tiếp của bột mầm
Đậu nành có làm gia tăng hàm lượng estradiol trong máu của thú thử nghiệm
b́nh thương hay không. Kết quả được thể hiện ở h́nh 2.
H́nh 2. Đồ
thị biểu diễn hàm lượng estradiol của các lô
chuột b́nh thường
Nhận xét
-
Hàm lượng estradiol của lô chuột b́nh thường
uống thuốc đối chiếu estradiol valerate liều
0,5 mg/kg cao hơn so với hàm lượng estradiol của lô
chứng, đạt ư nghĩa thống kê ở độ
tin cậy 95%.
-
Hàm lượng estradiol của lô uống bột mầm
Đậu nành liều 50 mg/kg không khác nhau đạt ư
nghĩa thống kê so với hàm lượng estradiol của
lô chứng. Do đó, phối hợp với kết quả ở
phần
Chúng
tôi kết luận rằng bột mầm Đậu nành ở
liều uống 50 mg/kg sau 15 ngày chỉ có tác dụng phục
hồi sự giảm hàm lượng estradiol trong những
chuột bị giảm năng sinh dục, không thể hiện
tác dụng kiểu estrogen trên chuột b́nh thường.
Khảo sát tác động
của estradiol trên sự tăng trọng
Sự thay đổi trọng lượng
của các thú thử nghiệm b́nh thường
Kết quả thử nghiệm được
tŕnh bày ở bảng 3.
Bảng 3.
Thay đổi (%) trọng
lượng so với ban đầu ở chuột bị
giảm năng sinh dục
|
|
Lô thử nghiệm N = 10-15 |
Liều cho uống (mg/kg) |
Trọng
lượng so với ban đầu(%) |
|
|||
|
Chuột
b́nh thường |
Chứng |
|
10,743 ± 2,762 |
|
|||
|
Chuột cắt bỏ 2 noăn sào |
Chứng |
|
35.037 ± 4.148# |
||||
|
Bột mầm Đậu nành |
10 |
29.222 ± 6.052 |
|
||||
|
Bột mầm Đậu nành |
50 |
17.204 ± 6.654* |
|
||||
|
ESTRADIOL |
0,5 |
2.974± 2.091* |
|||||
Nhận
xét
Thay đổi trọng lượng so với
ban đầu (%) của lô chứng cắt 2 noăn sào tăng đạt ư nghĩa thống kê so với lô chứng b́nh thường, chứng tỏ
mô h́nh nghiên cứu gây giảm năng sinh dục đạt.
-
Thay đổi trọng lượng so với ban đầu
của lô uống thuốc đối chiếu estradiol
valerate liều 0,5 mg/kg nhỏ
hơn so thay đổi trọng lượng so với
ban đầu của lô chứng, đạt ư nghĩa thống
kê ở độ tin cậy 95%.
-
Thay đổi trọng lượng so với ban đầu
của lô uống bột mầm Đậu nành liều 10
mg/kg thấp hơn so với thay đổi trọng lượng
so với ban đầu của lô chứng nhưng chưa
đạt ư nghĩa thống kê ở độ tin cậy
95%. Thay đổi trọng lượng so với ban đầu
của lô uống bột mầm Đậu nành liều 50
mg/kg thấp hơn so với thay đổi trọng lượng
so với ban đầu của lô chứng đạt ư
nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%. Do đó,
sơ bộ kết luận rằng bột mầm Đậu
nành ở liều uống 50 mg/kg sau 15 ngày có tác dụng giảm
sự tăng trọng ở những con chuột giảm
năng sinh dục do bị cắt 2 noăn sào.
Sự
thay đổi trọng lượng so với ban đầu
của các thú thử nghiệm bị giảm năng sinh dục
Kết quả thử nghiệm được tŕnh bày ở
bảng 4.
Bảng 4. Thay đổi (%)
trọng lượng so với ban đầu ở chuột
b́nh thường
|
|
Lô thử nghiệm N = 10-15 |
Liều cho uống(mg/kg) |
Trọng
lượng so với ban đầu (%) |
|
|||||||
|
Chuột b́nh thường |
Chứng |
|
10,743 ± 2,762 |
|
||||||
|
Bột mầm Đậu nành |
50 |
14.576 ± 2.061 |
||||||||
|
Estradiol |
0,5 |
6.891 ± 3.307 |
|
|||||||
Nhận
xét
-
Thay đổi trọng lượng so với ban đầu
(%) của lô chuột b́nh thường uống thuốc
đối chiếu estradiol valerate liều 0,5 mg/kg thấp hơn so với thay đổi trọng
lượng so với ban đầu của lô chứng,
nhưng chưa đạt ư nghĩa thống kê ở độ
tin cậy 95%.
-
Thay đổi trọng lượng so với ban đầu
của lô uống bột mầm Đậu nành liều 50
mg/kg không khác nhau đạt ư nghĩa thống kê so với
thay đổi trọng lượng so với ban đầu.
Kết hợp với kết quả ở bảng 3, chúng
tôi kết luận rằng bột mầm Đậu nành ở
liều uống 50 mg/kg sau 15 ngày chỉ có tác dụng làm giảm
trọng lượng cơ thể trong những chuột bị
giảm năng sinh dục, không thể hiện tác dụng
này trên chuột b́nh thường.
Khảo sát tác động
của estradiol bằng phương pháp Astwood.
Trọng lượng tử cung của
các thú thử nghiệm gây giảm năng sinh dục
Kết quả thử nghiệm được
tŕnh bày ở h́nh 3.

H́nh 3. Đồ
thị biểu diễn sự thay đổi trọng
lượng tử cung của các lô chuột
gây giảm năng sinh dục
Nhận xét
Trọng lượng tử cung của lô
chứng cắt 2 noăn sào giảm đạt ư nghĩa thống kê so với lô chứng b́nh thường,
chứng tỏ mô h́nh nghiên cứu gây giảm năng sinh dục đạt.
-
Trọng lượng tử cung của lô uống thuốc
đối chiếu estradiol valerate liều 0,5 mg/kg cao hơn
so với trọng lượng tử cung của lô chứng,
đạt ư nghĩa thống kê ở độ tin cậy
95%.
-
Trọng lượng tử cung của lô uống bột
mầm Đậu nành liều 10mg/kg và liều 50 mg/kg cao
hơn so với trọng lượng tử cung của lô
chứng đạt ư nghĩa thống kê ở độ
tin cậy 95%. Do đó, sơ bộ kết luận rằng
bột mầm Đậu nành ở liều uống 10-50
mg/kg sau 15 ngày có tác dụng phục hồi sự giảm trọng
lượng tử cung trong những con chuột giảm
năng sinh dục do bị cắt 2 noăn sào.
Trọng
lượng tử cung của các thú thử nghiệm b́nh
thường
Kết
quả được tŕnh bày ở bảng 5.
Bảng
5. Trọng lượng tử cung của các lô chuột
b́nh thường
|
|
Lô thử nghiệm N = 10-15 |
Liều cho uống (mg/kg) |
Trọng lượng
tử cung (g%) |
|
Chuột b́nh thường |
Chứng |
|
0,064 ± 0,002 |
|
Bột mầm Đậu nành |
50 |
0,142 ± 0,016* |
|
|
Estradiol |
0,5 |
0,502 ± 0,021* |
* P < 0,05 so với lô chứng tương ứng
Nhận
xét
- Trọng lượng tử
cung của lô uống thuốc đối chiếu Estradiol
valerate liều 0,5 mg/kg cao hơn so với trọng lượng
tử cung của lô chứng, đạt ư nghĩa thống
kê ở độ tin cậy 95%.
- Trọng
lượng tử cung của lô uống bột mầm
Đậu nành liều 50 mg/kg cao hơn so với trọng
lượng tử cung của lô chứng đạt ư
nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%. Do đó,
phối hợp với kết quả ở h́nh 3, chúng tôi kết
luận rằng bột mầm Đậu nành ở liều
uống 10-50 mg/kg sau 15 ngày có tác dụng kiểu estrogen trên cả
hai cơ địa b́nh thường và cơ địa giảm
năng sinh dục do bị cắt 2 noăn sào.
|
|
|
|
|
|
Tử cung chuột cắt 2 noăn sào uống
nước cất |
Tử cung chuột cắt 2 noăn sào uống
bột mầm Đậu nành 10 mg/kg |
Tử cung chuột cắt 2 noăn sào uống
estradiol |
Tử cung chuột cắt 2 noăn sào uống
bột mầm Đậu nành 50 mg/kg |
|
|
|
|
|
Tử cung chuột b́nh thường
uống nước cất |
Tử cung chuột b́nh thường
uống bột mầm Đậu nành 50 mg/kg |
Tử cung chuột b́nh thường
uống thuốc đối chiếu Estradiol valerate |
H́nh 4. H́nh minh họa sự khác biệt của khối lượng tử cung ở chuột thử nghiệm với các điều kiện thử khác nhau
KẾT LUẬN VÀ KIẾN
NGHỊ
Qua các kết
quả nghiên cứu được tŕnh bày có thể đi
đến những kết luận sau:
- Đây là lần đầu tiên
phương pháp Elisa được dùng để đánh
giá tác động invivo qua việc xác định hàm lượng
estradiol sản sinh gián tiếp qua việc sử dụng bột
mầm hạt Đậu nành. Kết quả cho thấy
đối với hàm lượng estradiol trong huyết thanh
bột mầm hạt Đậu nành ở liều uống
50 mg/kg sau 15 ngày chỉ có tác dụng phục hồi sự
giảm hàm lượng estradiol trong những chuột bị
giảm năng sinh dục, không thể hiện tác dụng
kiểu estrogen trên chuột b́nh thường.
- Đối
với sự thay đổi trọng lượng tử
cung, bột mầm Đậu nành có tác dụng làm phát triển
tử cung trên cả những chuột b́nh thường
cũng như chuột gây giảm năng sinh dục. Tác dụng
này thể hiện trên cả 2 liều cho uống 10 mg/kg và
50 mg/kg. Bột mầm Đậu nành có tác dụng kiểu
estrogen trên cả hai cơ địa b́nh thường và
cơ địa giảm năng sinh dục do bị cắt
2 noăn sào.
- Sơ
bộ kết luận rằng bột mầm Đậu
nành ở liều uống 50 mg/kg sau 15 ngày có tác dụng giảm
sự tăng trọng ở những con chuột giảm
năng sinh dục do bị cắt 2 noăn sào.
Qua kết quả
có được bằng thử nghiệm Elisa và Atswood có
thể khẳng định bột mầm hạt Đậu
nành có tác dụng của một phytoestrogen.
Nếu đề tài
được tiếp tục, chúng tôi xin đề nghị
thực hiện tiếp những phần sau:
- Thực
hiện phần khảo sát hóa học cho dược liệu
nghiên cứu là bột sấy phun mầm Đậu nành do Công ty
nghiên cứu và sản xuất Dược liệu miền
Trung sản xuất.
- Chiết
xuất chất chuẩn, xây dựng quy tŕnh tiêu chuẩn
hóa dược liệu.
- Sản
xuất thành chế phẩm phục vụ nhu cầu hỗ
trợ sức khỏe, trị bệnh,…
1. Engvall E, Perlman P-Enzym-linked immunosorbent assay (ELISA). Quantitative assay of immunoglobulin G-Immunochemistry 8 (9): 871-4.
3. Lequin R (2005) - Enzym immunoassay (EIA)/enzym-linked immunosorbent assay (ELISA) - Clinical Chemistry 51 (12): 2415-8.
4. Nguyễn Văn Tuấn-Phytoestrogen và sức khỏe con người-Vietsciences, 06-2006.
5. Tâm Diệu-Đậu nành nguồn dinh dưỡng tuyệt hảo-Nhà xuất bản Hoa Sen Westminster-1998, tr. 1-3.
6.
Viện Dược liệu-Cây thuốc
và động vật làm thuốc ở Việt
7. Viện Dược liệu-Phương pháp nghiên cứu tác dụng dược lư của thuốc từ dược thảo-chương 18: Phương pháp nghiên cứu dược lư thuốc có tác dụng nội tiết sinh dục (GS. Đoàn Thị Nhu), NXB Y học, 2005, tr. 209-213.