Đinh
Nữ Hạnh Thục[*], Nguyễn
Ngọc Khôi*
Mở
đầu: Nhiều công tŕnh nghiên cứu khoa học đă chứng
tỏ hiệu quả chống trầm cảm từ các cây
thuốc, vị thuốc từ dược liệu trên các
mô h́nh thử nghiệm dược lư.
Mục tiêu: Với mục đích nghiên cứu một loại chế
phẩm có nguồn gốc từ dược liệu, đề
tài được tiến hành nhằm khảo sát tác dụng
chống trầm cảm của phối hợp một số
dược liệu sẵn có ở Việt Nam như Cam thảo
(rễ) Glycyrrhiza glabra L, Nghệ (thân rễ) Curcuma longa L.,
Nhân sâm (rễ) Panax ginseng C. A. Mey.
Phương pháp: Các phối hợp
dược liệu được khảo sát qua hai sàng lọc
hoạt tính chống trầm cảm là mô h́nh bơi cưỡng bức
và mô h́nh treo đuôi chuột. Ngoài ra, khả năng vận động
tự nhiên c̣n được khảo sát bằng mô h́nh môi
trường mở.
Kết quả: Khi uống CT3 gồm phối hợp của 3 cao cam
thảo, nghệ và nhân sâm trong ṿng 14 ngày thể hiện tác
dụng chống trầm cảm trên cả hai mô h́nh đối
với chuột nhắt. Tác dụng này tương tự như fluoxetin liều 20 mg/kg
(p.o).
Kết luận: Việc nghiên cứu các tác dụng chống trầm
cảm cũng như liều sử dụng, độc tính cần phải
tiến hành để làm sáng tỏ khả năng ứng dụng phối
hợp trên trong điều trị trầm cảm.
Từ khóa:
ANTIDEPRESSANT-LIKE
ACTIVITY OF FORMULAE FROM LIQUORICE, TURMERIC
AND GINSENG EXTRACTS IN
MOUSE MODELS OF IMMOBILITY TESTS
Dinh
Nu Hanh Thuc, Nguyen Ngoc Khoi
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 30 – 34
Background: The
antidepressant effects of liquorice Glycyrrhiza glabra L., turmeric Curcuma
longa, and ginseng Panax ginseng have
been investigated with behavioral despair tests. Our preliminary study suggests
the combination of above-mentioned plants namely Formula 1 (CT1) 2 (CT2) and 3
(CT3) could be beneficial for the suppression of depression.
Objectives: The present
study was undertaken to investigate the antidepressant effects of these three
fomulae by using two behavioral models, the forced swimming test (FST) and tail
suspension test (TST) in mice.
Method: These fomulae
were administered orally for 14 days and
fluoxetine at 20 mg/kg was used as a positive control.
Results: CT3
significantly reduced immobility time in the FST and TST, although no change of
motor dysfunction was observed with the same dosage in the open field test.
Conclusion: Our results
suggest that CT3 exert antidepressant-like effects in these two behavioral
models.
Key words: Glycyrrhiza glabra L, Curcuma longa L., Panax ginseng C. A. Mey, antidepressant
Nhiều công tŕnh nghiên cứu
khoa học đă chứng tỏ hiệu quả chống trầm
cảm từ các cây thuốc, vị thuốc từ dược
liệu trên các mô h́nh thử nghiệm dược lư(Error! Reference source
not found.). Với mục đích nghiên cứu một
loại chế phẩm có nguồn gốc từ dược
liệu, đề tài được tiến hành nhằm
khảo sát tác dụng chống trầm cảm của phối
hợp một số dược liệu sẵn có ở Việt
Chuột
nhắt đực trắng (chủng Swiss abino, 5–6 tuần tuổi, khối lượng
từ 20–25g) được cung cấp bởi Viện
Văcxin & Sinh phẩm Y tế Nha Trang. Chuột
được nuôi ổn định một tuần bằng
thức ăn thường trước khi tiến hành thử
nghiệm.
Các chất
chuẩn ginsenosid Rb1 và ginsenosid Rg1 (Wako, Nhật
Bản), curcumin (từ các nghiên cứu trước đây tại
Pḥng Thí nghiệm trung tâm, Khoa Dược, ĐH Y Dược
TP. Hồ Chí Minh, độ tinh khiết 98,97%.), fluoxetin
(Kalxetin®).
Nguyên
liệu được sấy ở 50OC trong 4 giờ,
đem xay để đạt kích thước 1 – 3 mm. Cam
thảo được chiết bằng nước bằng
phương pháp đun hồi lưu (2 lần). Nghệ
được chiết bằng cồn 96O theo
phương pháp ngấm kiệt. Nhân sâm được chiết
lần lượt bằng phương pháp đun hồi
lưu với cồn 90 độ (3 lần) và cồn 45O
(3 lần). Tỷ lệ dung môi: dược liệu 1: 10. Tất
cả dịch chiết sau đó được cô giảm
áp đến khi được cao lỏng.
Kết quả chiết xuất được
tính sau khi đă trừ độ ẩm.
Cao cam thảo: Định lượng saponin bằng
phương pháp cân(1). Cân chính xác khoảng 1 g cao, ḥa 10 ml
nước vào trong 1 becher. Acid hóa dịch trong becher bằng
cách rót HCl 10%, vừa rót vừa khuấy đều đến
pH= 1-2 (thử bằng giấy pH). Acid glycyrrhizic tự do sẽ
cho kết tủa màu nâu lắng thành một khối dẻo
dưới đáy becher.
Gạn bỏ dịch, rửa tủa bằng nước cất
nhiều lần đến khi nước rửa trung tính.
Cân tủa, tính hiệu suất dựa trên cao đă trừ
độ ẩm.
Cao nghệ: Định
lượng curcumin I trong cao nghệ bằng phương
pháp HPLC. Máy sắc kư lỏng hiệu năng cao Waters, cột Sulfire RP-C18; 250 x 4 mm; 5 μm, Pha động: dung môi A:
acetonitril, dung môi B: acid acetic 0,5%. chương tŕnh rửa giải
gradient với dung môi A tăng từ 40 lên đến 60 % từ
0 đến 25 phút. Mẫu thử: cân chính xác khoảng 2 mg
cắn, ḥa tan trong pha động vào b́nh định mức
10 ml, lọc qua lọc 0,45 µm trước khi bơm vào máy.
Detector PDA: bước sóng phát hiện 428 nm, tốc độ
ḍng: 0,95 ml/phút, thể tích tiêm mẫu: 20 μl
Cao nhân sâm: Định lượng G-Rb1
và G-Rg1 trong saponin toàn phần từ cao nhân sâm bằng phương pháp HPLC. Máy HPLC LC-10AD (Shimadzu, Nhật), cột Supelcosil LC18 (250 x 4,6 mm), kích thước hạt 5 µm, kèm cột bảo vệ Supelguard (20x4,6 mm), pha động: acetonitril – nước (33: 67), tốc độ ḍng: 0,7 ml/ phút. Cân 6,63 mg saponin
toàn phần, ḥa tan trong
pha động, lọc qua lọc 0,45 µm trước khi bơm vào máy
HPLC với thể tích bơm:
10 µl, dectector PDA, bước sóng phát hiện: 203 nm.
Dựa
trên liều đă thử nghiệm có tác dụng của các
dược liệu: cam thảo 150 mg/kg(4), nghệ 50 mg/kg(7),
nhân sâm 100 mg/kg(5) riêng lẻ kết hợp với các nghiên cứu
thăm ḍ ban đầu, trong
nghiên cứu này, 3 công thức được khảo sát có
thành phần như sau (Tính trên kg thể trọng chuột):
-
Công thức 1: Cao nghệ 25 mg
Cao
cam thảo 100 mg
-
Công thức 2: Cao nghệ 25 mg
Cao cam thảo 75 mg
-
Công thức 3: Cao nghệ 25 mg
Cao
cam thảo 100 mg
Cao
nhân sâm 25 mg
Chuột được chia ngẫu nhiên
thành 5 nhóm:
-
Nhóm 1: nhóm chứng,
uống nước cất.
-
Nhóm 2: nhóm đối
chiếu, uống fluoxetin liều 20 mg/kg.
-
Nhóm 3: nhóm thử, uống
cao dược liệu công thức 1.
-
Nhóm 4: nhóm thử, uống
cao dược liệu công thức 2.
-
Nhóm 5: nhóm thử, uống
cao dược liệu công thức 3.
Các công thức 1, 2, 3 từ cao dược liệu và fluoxetin được pha loăng bằng nước cất. Thể tích cho uống tương ứng với liều
0,1 ml/10 g chuột. Chuột được cho uống các
cao thuốc liên tục trong 14 ngày rồi tiến hành thử
nghiệm. Sau mỗi thử nghiệm, mô h́nh được
lau sạch bằng EtOH 20% để tránh mùi hoặc thay
nước đối với mô h́nh bơi cưỡng
bức. Các thử nghiệm đều được ghi
h́nh bằng camera được
đặt ở vị trí thích hợp, các hành vi của chuột
trong các thử nghiệm được phân tích bằng phần
mềm Eventlog 1.0 (EMCO software) bởi một người có
kinh nghiệm và không biết mă số của chuột.
Mô
h́nh môi trường mở (Open field test): gồm 1 hộp
kích thước 40×40×40 cm, với tường trong suốt,
đáy hộp được chia ra làm 16 ô vuông có kích thước
bằng nhau. Cường độ chiếu sáng ở sàn là
100 lux. Tất cả chuột được đặt cố
định vào 1 góc của mô h́nh, thực hiện thử
nghiệm trong 5 phút, ghi nhận số ô vuông chuột di chuyển
vào (bằng cả 4 chân), số lần đứng lên.
Mô h́nh bơi cưỡng bức (Forced swimming test): Bộ dụng cụ
là một b́nh h́nh trụ được làm bằng Plexiglas
(cao 20 cm, đường kính 12 cm), nước (24±1oC)
được cho vào b́nh đến mức 15 cm. Chuột
thử nghiệm được cho uống 60 phút trước
khi thử nghiệm.Chuột được đặt vào
b́nh và thực hiện thử nghiệm trong 6 phút. Cho chuột
bơi tự do trong 2 phút đầu. Từ phút thứ 3, thời
gian bất động của chuột (khi chuột ở
trạng thái đứng nước) được ghi nhận
bằng camera.
Mô h́nh treo đuôi chuột (Tail suspension test): Bộ dụng cụ
gồm một thanh sắt được gắn cố
định trên giá, cao hơn mặt đất 50 cm. Chuột
thử nghiệm được cho uống 60 phút trước
khi thử nghiệm. Dùng băng dính dán đuôi chuột trên
thanh sắt (dán khoảng 1 cm, kể từ đỉnh
đuôi). Thời gian bất động được theo
dơi trong thử nghiệm kéo dài 6 phút.
Các dữ
liệu được biểu thị dưới dạng
Mean±SEM. Qua phân tích các số liệu bằng phép kiểm
Kolmogorov-Smirnov cho thấy có sự phân bố không b́nh thường
ở một số dăy số liệu. Do đó việc xử
lư thống kê sử dụng phần mềm SPSS phiên bản
16, với phép kiểm Kruskal-Wallis, tiếp theo dùng phép kiểm
Mann-Whitney-U test để so sánh sự khác biệt giữa
các lô. Sự khác nhau được xem là có ư nghĩa khi giá
trị p<0,05.
Bảng 1. Kết quả chiết
xuất của các dược liệu
|
Dược liệu |
Khối lượng dược liệu (kg) |
Khối lượng cao (g) |
Hiệu suất chiết (%) |
|
|
3,5 |
650 |
18,57 |
|
Nghệ |
3,0 |
505 |
16,83 |
|
Nhân sâm |
0,4 |
180 |
45 |

H́nh 1. Sắc đồ HPLC khi phân tích nghệ (A) và nhân sâm (B). Cur: curcumin, G-Rb1:
ginsenosid Rg1, G-Rg1: ginsenosid Rg1
-
Cao cam thảo: Hàm lượng
acid glycyrrhizic trong cao cam thảo 9,97 %
-
Cao nghệ: Hàm lượng
curcumin là 21,72 %
-
Cao nhân sâm: Hàm lượng
G-Rb1 và G-Rg1 lần lượt là 1,73 % và 1,04%.
H́nh 2. Ảnh hưởng của của CT
1, CT 2, CT 3 và fluoxetin trên số ô di chuyển và số lần
đứng lên trong thử nghiệm mô h́nh môi trường
mở. n thể hiện số chuột trong mỗi nhóm.
H́nh 3. Ảnh hưởng
trên thời gian bất động do CT 1, CT 2 và CT 3 trong thử
nghiệm mô h́nh bơi gắng sức (A) và mô h́nh treo
đuôi chuột (B), n thể hiện số chuột trong mỗi
nhóm.*p<0,05, ** p<0,01 so với nhóm chứng (nhóm 1)
Mô h́nh chuột bơi cưỡng
bức (Forced swimming test-FST) được Porsolt và các cộng
sự thiết lập là thử nghiệm khởi đầu
đối với các thuốc chống trầm cảm
(1977). Cho đến nay, đây vẫn là một trong những
mô h́nh thử nghiệm tốt nhất để đánh giá
khả năng chống trầm cảm. Dựa vào thời
gian bất động của chuột thử nghiệm
để đánh giá hành vi của chuột trong một môi
trường bất lợi (bị gây stress). Thời gian bất
động càng ngắn càng thể hiện khả năng
vượt qua các điều kiện khó khăn, bất lợi,
điều này đặc biệt liên quan đến các thuốc
chống trầm cảm (Error!
Reference source not found.).
Mô h́nh treo đuôi chuột dựa trên sự theo dơi hành vi của chuột trong một cuộc thử nghiệm ngắn. Chuột được gây stress cô lập và không thể thoát khỏi do t́nh trạng bị treo ngược sẽ gia tăng hành vi bất động ở chuột thử nghiệm (3). Nếu thời gian bất động giảm sẽ đánh giá khả năng vượt qua các tác nhân stress, t́nh trạng tuyệt vọng, trầm cảm và có mối liên hệ đến các phương pháp điều trị trầm cảm. Chính v́ thế mà ngày nay, cả hai mô h́nh FST và TST đều là những mô h́nh có giá trị tiên đoán cao đối với các liệu pháp điều trị trầm cảm mới, đặc biệt là những nghiên cứu về thuốc mới.
Từ kết quả thử nghiệm trên mô h́nh môi trường mở, các công thức thử nghiệm và fluoxetin không làm ảnh hưởng lên khả năng vận động tự nhiên của chuột thử nghiệm. Đặc biệt trên cả 2 mô h́nh chuột bơi gắng sức và treo đuôi chuột, CT 3 gồm các cao dược liệu ứng với các liều sau: nghệ 25 mg/ kg, cam thảo 100 mg/kg, nhân sâm 25 mg/ kg đều làm giảm thời gian bất động của chuột so với nhóm chứng (nhóm 1). Đây là thông số cho thấy tác dụng chống trầm cảm của CT 3 đă giảm liều ở mỗi dược liệu so với liều công bố. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với những công bố trước đây về tác dụng chống trầm cảm của từng dược liệu có trong công thức này.
Một công bố gần đây về tác dụng
chống trầm cảm từ phối hợp của các
cao dược liệu gồm nhân sâm, cam thảo và hạt
táo đă được đăng kư bản quyền
châu Âu càng khẳng định vai tṛ của các dược
liệu và sự phối hợp các dược liệu
trong điều trị bệnh trầm cảm (Error!
Reference source not found.).
Qua hai mô
h́nh dược lư thực nghiệm phổ biến hiện
nay là mô h́nh bơi cưỡng bức và
mô h́nh treo đuôi chuột, khi uống CT3 gồm phối hợp
của 3 cao cam thảo, nghệ và nhân sâm trong ṿng 14 ngày thể
hiện tác dụng chống trầm cảm trên cả hai mô
h́nh đối với chuột nhắt. Tác dụng này
tương
tự như fluoxetin liều 20
mg/kg (p.o). Việc nghiên cứu các tác dụng chống trầm
cảm cũng
như liều sử dụng,
độc tính cần phải tiến hành để làm sáng
tỏ khả năng ứng dụng phối
hợp trên trong điều trị trầm cảm.
1. Bộ môn dược liệu (2007), Phương pháp nghiên cứu dược liệu, Trường ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh, tr. 136 – 137.
2. Cryan J. F., Markou A and Lucki I (2002), “Assessing antidepressant activity in models recent developments and future needs”, Trends Pharmacol. Sci., 23, 238 – 245.
3. Cryan J.F., Mombereau C, Vassout A (2005), “The tail suspension test as a model for assessing antidepressant activity: Review of pharmacological and genetic studies in mice”, Neurosci. And Biobehav. Rev., 29, 573 – 575.
4.
Dinesh
Dhingra, Amandeep Sharma (2006), “Antidepressant-like activity of Glycyrrhiza
glabra L. in mouse models of immobility tests”, Neuro-Psychopharmacology &
Biological Psychiatry, 30, 449 – 454.
5. Do-Hoon Kim, Yoo-Sun Moon, Jun-Sub Jung, Sung-Kil Min, Bong-Ki Son, Hong-Won Suh, Dong-Keun Song (2003), “Effects of ginseng saponin administered intraperitoneally on the hypothalamo-pituitary-adrenal axis in mice”, Neuroscience Letters, 343, 62–66.
6. European Patent (2007), “A pharmaceutical composition for treating depression and method for preparation there of”, European Patent, EP 1862158.
7. Xia X., Cheng G., Pan Y., Xia Z.H., Kong L.D. (2007), “Behavioral, neurochemical and neuroendocrine effects of the ethanolic extract from Curcuma longa L. in the muose forced swimming test”, Journal of Ethnopharmacol., 110, 356 – 363.
8. Zhang-Jin Zhang (2004), “Therapeutic effects of herbal extracts and constituents in animal models of psychiatric disorders”, Life Sciences, 75, 1659 – 1699.
.
[*] Khoa Dược - Đại học
Y Dược Tp.HCM
Địa chỉ liên hệ: Đinh
Nữ Hạnh Thục ĐT: 0905151016 Email: springflower8485@yahoo.com