Nguyễn
Thị Thu Giang*, Đỗ Tường Hạ**, Thái Khắc
Minh*, Vơ Phùng Nguyên*, Trần Thành Đạo*
Đặt vấn đề: Các dẫn chất flavonoid đặc biệt chalcon
hiện nay được quan tâm nghiên cứu như là tác nhân kháng viêm tiềm năng.
Mục tiêu: Sàng lọc những dẫn chất chalcon có tác dụng
kháng viêm in vivo có thể phát triển thành thuốc điều
trị kháng viêm ít tác dụng phụ cho bệnh nhân măn tính.
Phương pháp: Áp dụng phản ứng ngưng tụ Claisen Schmidt
để tổng hợp chalcon. Tác động kháng viêm của
chất thử được xác định bằng
phương pháp gây viêm trên chuột bằng dung dịch
carrageenin 1% của Winter và cộng sự.
Kết quả: 10 Dẫn chất chalcon đă được tổng
hợp và khảo sát tác động kháng viêm in vivo trên chuột
nhắt trắng. Các dẫn chất 2’-hydroxychalcon có tác dụng
kháng viêm in vivo mạnh hơn chalcon gốc (không mang nhóm thế)
Kết luận: Các dẫn chất polyoxychalcon, đặc biệt
2’-hydroxychalcon có mang ít nhất 1 nhóm methoxy trên ṿng B được
xem có tiềm năng
để phát triển chất kháng viêm mới.
Từ khóa: polyoxychalcone, hoạt tính kháng viêm
SYNTHESIS AND EVALUATION
OF ANTI-INF LAMMATORY ACTIVITY OF SOME POLYOXYCHALCONES
Nguyen
Thi Thu Giang, Do Tuong Ha, Thai Khac Minh, Vo Phung
Nguyen, Tran Thanh Dao
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 -
Supplement of No 1 - 2010: 93 – 99
Background: Flavonoids especially chalcones recently have reported as potential
anti-inflammatory inhibitors.
Objectives: To screen for new chalcone compounds that show good in vivo
anti-inflammatory activity.
Methods: Claisen Schmidt reaction is applied for
synthesis of heterocyclic chalcone, and their anti-inflammatory activity is
measured by the model of carrageenin-induced edema in hind paw of the rat.
Results: 10
Polyoxychalcones were obtained with good yields and the results of in vivo anti-inflammatory
activity showed that chalcones with hydroxyl group at position 2 of A ring are stronger than that of mother chalcone.
Conclusions: The methoxy groups on B ring may be to have positive affect to the in
vivo anti-inflammatory activity of tested chalcones. The polyoxychalcone which
possessing a hydroxy group at position C2 of A ring and at least one group
methoxy in B may be consider as a lead compound for generation of new chalcone
analogues for potent anti-inflammatory agents.
Keywords: polyoxychalcone, anti-inflammatory activity

Hai nhóm thuốc
kháng viêm chính hiện nay đang được sử dụng
nhiều là glucocorticoid và thuốc kháng viêm không steroid (NSAID),
cả hai thuốc này đều có nhiều tác dụng phụ
thường gặp như kích ứng, suy giảm miễn dịch,
loét dạ dày… Sự ra đời của các NSAID ức chế
đặc hiệu trên cyclooxygenase-2 tưởng như là một giải pháp mới
trong điều trị nhưng lần lượt rofecoxib rồi valdecoxib bị
rút khỏi thị trường v́ gây tăng các
yếu tố nguy
cơ tim mạch.(Error! Reference source
not found.) Trong t́nh h́nh đó việc nghiên cứu
t́m ra những hoạt chất kháng viêm an toàn càng trở nên
hết sức cần thiết v́ thuốc kháng viêm là một
trong 3 thuốc đứng đầu về nhu cầu
điều trị tính theo giá thuốc bán ra thị trường
cùng với thuốc tim mạch và ung thư.
Flavonoid nói
chung và đặc biệt là nhóm chalcon đă được
nghiên cứu và chứng minh in vitro có tác động kháng viêm
theo nhiều cơ chế khác nhau.(Error!
Reference source not found.),(Error! Reference source not found.)
Về hoạt tính kháng viêm của flavonoid, rất nhiều
công tŕnh nghiên cứu in vitro và in vivo đă được
công bố. Dường như có sự liên quan giữa khả năng chống oxy hóa và khả năng ức chế cyclooxygenase và
lipooxygenase,(Error!
Reference source not found.) một số
tác giả nghiên cứu tác động kháng viêm in vitro của
các dẫn chất flavonoid rút ra nhận xét rằng các
flavonoid chứa nhiều nhóm hydroxy và chalcon cũng cho
tác động ức
chế sinh tổng hợp các chất tiền viêm
(prostaglandin E2, cytokin) tốt hơn các dẫn chất khác.(Error! Reference source
not found.), (Error!
Reference source not found.)
Hiện nay các flavonoid được nghiên cứu có tác dụng tốt đa phần là các flavonoid thiên nhiên như kaempferol, quercetin, catechin, chrysin… Theo các nghiên cứu, tác dụng sinh học của chúng nhờ vào sự có mặt của nhiều nhóm hợp chất OH phenol tự do.(5) Tuy nhiên, các nhóm OH tự do này cũng là nguyên nhân làm tăng sự phân cực, hấp thu kém nên tác động in vivo thường không tốt như trong in vitro.
Trong một số nghiên cứu trước đây, các tác giả Haeil Park, Tran Thanh Dao (2004) đă có những công bố về tác dụng kháng viêm in vitro của một số dẫn chất polyoxyflavonoid (chalcon và flavon).(Error! Reference source not found.),(Error! Reference source not found.),(Error! Reference source not found.) Với mục tiêu sàng lọc chất có tiềm năng phát triển thành thuốc điều trị kháng viêm, nghiên cứu này đă tiến hành khảo sát tác động kháng viêm in vivo trên chuột nhắt trắng trên mô h́nh gây viêm với carrageenin 1%. Liên quan cấu trúc và tác dụng kháng viêm in vivo cũng được bàn luận để định hướng cấu trúc cần thiết cho tác dụng kháng viêm trong nghiên cứu tổng hợp.
Tất cả nguyên liệu tổng hợp được
mua từ công ty Aldrich và Merck, sử dụng trực tiếp
không tinh chế lại. Xác định nhiệt độ
nóng chảy trên máy Gallenkamp với nhiệt kế không hiệu
chỉnh. Ghi phổ UV trên máy U-2010 (HITACHI) và phổ IR trên
máy FTIR 8201 PC (SHIMADZU), phổ 1H-NMR đo trên máy
Brucker (500 MHz).
Phản ứng ngưng tụ Claisen-Schmidt (10)
được dùng tổng hợp dẫn chất chalcon
(Sơ đồ
1).

Sơ đồ 1. Phản ứng Claisen Schmidt dùng tổng
hợp polyoxychalcon
Cho vào erlen dẫn chất polyoxyacetophenon và dẫn chất
polyoxybenzaldehyd với tỷ lệ mol 1:1. Ḥa tan từ từ hỗn hợp
nguyên liệu với một lượng tối thiểu
methanol, cho từ từ lượng KOH tương
đương 2 lần số mol vào. Tiến
hành ở nhiệt độ pḥng, theo dơi
bằng sắc kư lớp mỏng, dung môi khai triển n-hexan
- aceton (5-2). Acid hóa từ từ hỗn hợp
bằng HCl 10% đến pH khoảng 4. Tủa h́nh
thành được lọc, rửa bằng nước lạnh,
kết tinh lại trong hỗn hợp methanol thu
sản phẩm. Sấy sản phẩm ở
40oC.
Thú thử nghiệm: chuột nhắt trắng trưởng thành không
kể giới tính, chủng DDY, nặng từ 18-22 g, khoẻ
mạnh do viện Pasteur Nha trang cung cấp.
Chuột được nuôi cho quen với môi
trường 2 ngày trước khi tiến hành thử nghiệm.
Trong suốt quá tŕnh thử nghiệm, chuột được
cung cấp đầy đủ thức ăn và nước uống.
Chất đối chiếu: ketoprofen nồng độ 2,5%,
dạng kem.
Chất gây viêm: carrageenin
được cung cấp bởi Sigma Aldrich. Dung dịch
carrageenin 1% pha trong dung dịch sinh lư
được chuẩn bị trước khi thử nghiệm
2 giờ.
Dụng cụ đo thể tích chân chuột: thiết bị Plethymometer model 7140, hăng Ugo
basile.
Khảo sát tác động kháng viêm (9): chuột được gây viêm bằng cách tiêm vào gan bàn chân trái 0,025 ml dung dịch carrageenin 1%. Đo thể tích chân chuột 3 giờ sau khi tiêm. Các chuột có thể tích chân sưng phù trên 50% so với b́nh thường được lựa chọn cho thử nghiệm. Chuột được chia ngẫu nhiên thành các lô, mỗi lô 8-10 con: lô thử nghiệm dùng kem nồng độ 2,5% và 5% của các dẫn chất Flavone; lô thuốc đối chứng dùng kem ketoprofen nồng độ 2,5%; lô chứng dùng kem tá dược; lô trắng không dùng kem. Theo dơi thể tích sưng phù của chân chuột mỗi ngày vào 1 giờ nhất định trong 6 ngày liên tiếp.
Mức
độ phù chân chuột được tính theo
công thức:
![]()
X: mức độ phù tính
theo %
Vo: thể tích chân chuột trước khi gây
viêm (đơn vị đo 1/100 ml)
Vn: thể tích chân
chuột sau khi gây viêm (đơn vị đo
1/100 ml)
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để tính giá trị trung b́nh của thể tích chân chuột. Dữ liệu được tŕnh bày dưới dạng số trung b́nh (Mean) ± SEM. Sự khác biệt giữa các lô được phân tích bằng phương pháp Kruskal-Wallis, sau đó là Mann-Whitney với phần mềm Minitab 14.0. P<0,05 được cho là có ư nghĩa thống kê.
Từ các polyoxyacetophenon và polyoxybenzaldehyd, 10 dẫn chất polyoxychalcon được tổng hợp (xem Bảng 1) và phân tích cấu trúc bằng các phổ phân tích IR, UV và NMR.
Bảng 1. Cấu trúc các dẫn chất polyoxychalcon tổng hợp (G1-G10)

|
STT |
Chất thử |
R1 |
R2 |
R3 |
R4 |
R |
R’ |
|
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 |
G1 G2 G3 G4 G5 G6 G7 G8 G9 G10 |
OCH3 OCH3 OCH3 H H H OCH3 OCH3 H OCH3 |
OCH3 H H OCH3 OCH3 H OCH3 H H H |
H OCH3 H OCH3 OCH3 Cl OCH3 OCH3 H OCH3 |
H H OCH3 H OCH3 H H OCH3 H H |
OCH3 OCH3 OCH3 OCH3 OCH3 OCH3 OCH3 OCH3 H H |
OH OH OH OH OH OH OH OH H OH |
Hiệu
suất: 70%. Nhiệt độ nóng chảy: 121oC. Phổ UV (λmax nm,
dicloromethan): 229, 346. Phổ IR (ncm-1, KBr): 1625,9 (uC=O), 1579,6 (uC=C nhân thơm), 1110,9 (uC-O-)
Phổ 1H-NMR (500MHz, DMSO, δ ppm): 13,364 (s, 1H, OH phenol); 7,876 – 7,884
(d, J = 16 Hz, 1H, Hb); 7,799 – 7,768 (d, J = 16 Hz, 1H, Hα); 7,344 –
7,309 (t, J = 9 Hz, 8,5 Hz, 1H, H5); 7,168 – 7,125 (dd, J = 8,5 Hz,
8,5 Hz, 2H, H4 và H6); 6,116- 6,612 (d, J = 2 Hz, 1H, H3’);
6,136 – 6,132 (d, J = 2 Hz, 1H, H5’); 3,893 (s, 3H, OCH3);
3,841 (s, 3H, OCH3); 3,828 (s, 3H, OCH3); 3,782 (s, 3H,
OCH3).
Hiệu suất: 56%. Nhiệt độ nóng chảy: 132 oC. Phổ UV (λmax
nm, dicloromethan): 227, 379. Phổ IR (ncm-1, KBr): 1548,7 (uC=O), 1504,4 (uC=C nhân thơm), 1118,6 (uC-O-)
Phổ
1H-NMR (500MHz, DMSO, δ
ppm): 13,785 (s, 1H, OH phenol); 7,906 – 7,875 (d, J = 15,5 Hz, 1H, Hb); 7,802 – 7,770 (d, J = 16 Hz, 1H,
Hα); 7,645 – 7,628 (d, J = 8,5 Hz,
1H, H6); 6,652 – 6,648 (d, J = 2 Hz, 1H, H3); 6,634-
6,612 (dd, J = 2,5 Hz, 2,5 Hz, 8,5 Hz, 1H, H5); 6,144 – 6,140 (d, J
= 2 Hz, 1H, H3’); 6,110 – 6,106 (d, J = 2 Hz, 1H, H5’);
3,907 (s, 3H, OCH3); 3,897 (s, 3H, OCH3); 3,838 (s, 3H,
OCH3); 3,819 (s, 3H, OCH3).
Hiệu suất: 60%. Nhiệt
độ nóng chảy: 141oC. Phổ UV (λmax
nm, dicloromethan): 228, 268, 333, 380. Phổ IR (ncm-1, KBr):
1622,0 (uC=O), 1566,1 (uC=C nhân thơm), 1180,4 (uC-O-). Phổ 1H-NMR
(500MHz, DMSO, δ ppm): 13,443 (s, 1H, OH phenol); 7,850 –
7,811 (dd, J = 16 Hz, 2H, Hb và Hα); 7,220 – 7,215 (d, J = 2,5 Hz, 1H, H6);
7,064 – 7,046 (d, J = 9 Hz, 1H, H3); 7,031 – 7,077 (dd, J = 3 Hz, 3
Hz, 9 Hz, 1H, H4); 6,162 – 6,157 (d, J = 2,5 Hz, 1H, H3’);
6,127 – 6,123 (d, J= 2 Hz, 1H, H5’); 3,890 (s,3H,OCH3);
3,842 (s,3H, OCH3); 3,825 (s,3H,OCH3); 3,770 (s,3H, OCH3).
Hiệu
suất: 72%. Nhiệt độ nóng chảy: 130 oC.
Phổ UV (λmax nm, dicloromethan): 227, 374. Phổ IR (ncm-1, KBr):
1780,2 (uC=O), 1548,7 (uC=C nhân thơm), 1303,8 (uC-O-). Phổ 1H-NMR
(500MHz, DMSO, δ ppm): 13,373 (s, 1H, OH phenol); 7,665 –
7634 (d, J = 15,5 Hz, 1H, Hb); 7,620 – 7,589 (d, J =
15,5 Hz, 1H, Hα); 7,299 – 7,281 (dd, J
= 7 Hz, 2 Hz, 2H, H6 và H2); 7,032 – 7,015 (d, J = 8,5
Hz, 1H, H5); 6,159- 6,154 (d, J = 2,5 Hz, 1H, H3’); 6,122
– 6,117 (d, J = 2,5 Hz, 1H, H5’); 3,890 (s, 3H, OCH3);
3,830 (s, 3H, OCH3); 3,819 (s, 3H, OCH3); 3,815 (s, 3H,
OCH3).
Hiệu suất: 65%. Nhiệt độ
nóng chảy: 150 oC. Phổ UV (λmax nm,
dicloromethan): 227, 365. Phổ
IR (ncm-1,
KBr): 1633,6 (uC=O),
1562,2 (uC=C
nhân thơm), 1188,1 (uC-O-). Phổ
1H-NMR (500MHz, DMSO, δ ppm): 13,115 (s, 1H, OH phenol); 7,673 – 7,642 (d, J
= 15,5 Hz, 1H, Hb); 7,574 – 7,543 (d, J = 15,5 Hz, 1H, Hα); 7,040(s,
2H, H2 và H6); 6,166 - 6,162 (d, J = 2 Hz, 1H, H3’);
6,129 – 6,124 (d, J = 2,5 Hz, 1H, H5’); 3,880 (s, 3H, OCH3);
3,841 (s, 6H, OCH3); 3,820 (s, 3H, OCH3); 3,711 (s, 3H,
OCH3).
Hiệu suất: 69%. Nhiệt
độ nóng chảy: 138 oC. Phổ UV (λmax nm,
dicloromethan): 230, 244. Phổ
IR (ncm-1,
KBr): 1629,7 (uC=O),
1568,0 (uC=C
nhân thơm), 1290,3 (uC-O-). Phổ
1H-NMR (500MHz, DMSO, δ ppm): 13,309 (s, 1H, OH phenol); 7,766 – 7,734 (t, J
= 8,5 Hz, 7,5 Hz, 16 Hz, 3H, Hb và H3,
H4); 7,640 – 7,608 (d, J = 16 Hz, 1H, Hα); 7,515 –
7,498 (d, J = 8,5 Hz, 2H, H2 và H5); 6,166 – 6,162 (d, J
= 2 Hz, 1H, H3’); 6,136 – 6,131 (d, J = 2,5 Hz, 1H, H5’);
3,895 (s, 3H, OCH3); 3,827 (s, 3H, OCH3).
Hiệu suất: 75%. Nhiệt độ
nóng chảy: 135 oC. Phổ UV (λmaxnm,
dicloromethan): 228, 368. Phổ
IR (ncm-1,
KBr): 1637,5 (uC=O),
1593,1(uC=C
nhân thơm), 1112,9 (uC-O-). Phổ 1H-NMR
(500MHz, DMSO, δ ppm): 13,541 (s, 1H,
OH phenol); 7,816 – 7,784 (d, J = 16 Hz, 1H, Hb); 7,759 –
7,728 (d, J = 15,5 Hz, 1H, Hα); 7,496 – 7,749 (d, J = 8,5 Hz, 1H, H6);
6,923 - 6,905 (d, J = 9 Hz, 1H, H5); 6,157 – 6,152 (d, J = 2,5 Hz,
1H, H3’); 6,124 – 6,119 (d, J = 2,5 Hz, 1H, H5’); 3,892
(s, 3H, OCH3); 3,862 (s, 3H, OCH3); 3,850 (s, 3H, OCH3);
3,823 (s, 3H, OCH3); 3,776 (s, 3H, OCH3).
Hiệu suất: 57%. Nhiệt độ
nóng chảy: 150 oC. Phổ UV (λmaxnm, dicloromethan): 225, 372, 400. Phổ IR
(ncm-1, KBr): 1618,2 (uC=O), 1558,4 (uC=C nhân thơm), 1128,3 (uC-O-). Phổ 1H-NMR (500MHz, DMSO,
δ ppm): 13,659 (s, 1H, OH); 7,918-7,887 (d, J = 15,5 Hz, 1H, Hb); 7,766-7,734 (d, J=16 Hz, 1H, Ha); 7,208 (s, 1H, H6); 6,751 (s,1H, H3);
6,148-6,143 (d, J = 2,5 Hz, 1H, H3’); 6,109-6,104 (d, J = 2,5 Hz,
1H, H5’); 3,898 (s, 3H, OCH3); 3,891 (s,3H,OCH3);
3,871 (s,3H, OCH3); 3,817 (s,3H, OCH3); 3,780 (s, 3H, OCH3).
Hiệu
suất 68%. Nhiệt độ nóng chảy 55 oC. IR ((ncm-1, KBr) : 1660 (uC=O), 1600 (uC=C nhân thơm). 1H NMR (500 MHz,
CDCl3, d ppm): 6,9 (d, J = 17 Hz, 1H, Ha) 7,3 –
7,9 (m, 11H, Hb và Ar–H).
Hiệu suất: 54%. Nhiệt độ
nóng chảy: 132 oC. 1H-NMR (500 MHz,
CDCl3 δ ppm):
7,7-7,8 (m, 2H); 7,5-7,65 (m, 3H); 7,3-7,4 (m, 4H); 6,45-6,6 (m, 2H); 3,8 –
3,95 (s, 6H, OCH3).
Tất
cả các chalcon tổng hợp được (G1-G8) đều
có hoạt tính kháng viêm tốt, khới phát tác dụng ngay từ
ngày đầu tiên và duy tŕ cho đến khi kết thúc thử
nghiệm (ngoại trừ G6 khởi phát tác dụng vào ngày
thứ 2). Tác dụng giảm độ phù chân chuột tại
các thời điểm thử nghiệm của các chất
G1-G8 (ở cả 2 nồng độ 2,5% và 5%) so với lô
chứng khác biệt có ư nghĩa thống kê (xem Đồ
thị 1, 2, 3).

Đồ thị
1.
Độ phù chân chuột (%) tại các thời điểm
của các lô thử nghiệm dẫn chất chalcon G1,G3, G5 (2,5% và 5%) so với lô chứng và lô
ketoprofen

Đồ thị
2.
Độ phù chân chuột (%) tại các thời điểm
của các lô thử nghiệm dẫn chất chalcon G2, G4, G6
(2,5% và 5%) so với lô chứng và lô
ketoprofen
Các chất thử nghiệm
G1, G5 ở nồng độ 5% cho thấy sự giảm
độ phù chân chuột khác biệt có ư nghĩa thống kê nhanh hơn so với lô nồng
độ 2,5 % tương ứng, nhưng với các chất c̣n lại th́ cả 2 lô có
tác dụng tương đương ví dụ như G2 (xem đồ
thị 4 và 5). Nói chung giữa 2 nồng
độ thử nghiệm không có sự khác biệt lớn
về tác dụng kháng viêm.

Đồ thị
3.
Độ phù chân chuột (%) tại các thời điểm
của các lô thử nghiệm G7, G8 (2,5%
và 5%) so với lô chứng và lô ketoprofen

Đồ thị
4.
Độ phù chân chuột (%) ở lô 2,5
% so với 5% của G1 tại các thời điểm
Chất thử nghiệm G2, G3, G4, G7, G8 ở
cả 2 nồng độ và G1, G5 ở nồng độ
5% khi so sánh với lô đối chứng (dùng ketoprofen 2,5%)
th́ khác nhau không có ư nghĩa
thống kê. Nói cách khác các chất thử
nghiệm này đều có tác dụng kháng viêm tương đương với ketoprofen. Đặc biệt chất G7 ở nồng độ
5% có giá trị độ phù giảm nhiều hơn so với ketoprofen,
được tŕnh bày ở Đồ thị 6.

Đồ thị
5.
Độ phù chân chuột (%) ở lô 2,5 % so với 5% của G2
tại các thời điểm.

Đồ thị
6.
Độ phù chân chuột (%) ở lô G7 5% và lô ketoprofen tại
các thời điểm
Trong khi các chất G1-G8 giảm độ phù chân chuột
có ư nghĩa thông kê so với lô chứng ngay từ những ngày
đầu và duy tŕ tác dụng th́ lô G9 chỉ khác biệt có
ư nghĩa thống
kê so với lô chứng ở 1 hoặc 2 ngày đầu,
không duy tŕ (Đồ thị 7). Điều này gián tiếp cho thấy các chất
G1-G8 tác dụng mạnh hơn G9 là do ảnh hưởng của
các nhóm thế methoxy trên ṿng A và B.

Đồ thị 7. Độ phù chân chuột (%) ở lô G9 so với lô chứng và lô ketoprofen
Nhóm 2’-hydroxy quan trọng đối với tác
dụng kháng viêm in vivo của
các chất thử nghiệm, kết
quả kháng viêm in vivo phù hợp với kết quả
kháng viêm in vitro đă công bố trước đây. [2]
[6] Các dẫn chất 2’-hydroxychalcon đều có tác dụng
giảm độ phù chân chuột mạnh, khác có ư nghĩa thống kê so với lô chứng,
trong khi G9 là chalcon không có nhóm thế 2’-hydroxy có tác dụng giảm
độ phù chân chuột rất yếu.
Các nhóm methoxy có ảnh hưởng đến hoạt
tính kháng viêm của chalcon. Theo tài liệu, các nhóm methoxy trên ṿng B có khả
năng tạo
liên kết với phân tử Arg-120 của enzym COX-2 dẫn
đến ức chế enzym này hoạt động và kết
quả ức chế được quá tŕnh viêm[3].
Trong thử nghiệm này các dẫn chất chalcon
mang các nhóm methoxy trên ṿng B đều có tác dụng làm giảm
đáng kể độ phù chân chuột thử nghiệm.
Giải thích hiện tượng này, ngoài cơ chế tương tác
thuốc và thụ
thể qua nối hydrogen, các nhóm methoxy c̣n góp phần giảm
bớt tính phân cực của phân tử, giúp hoạt chất
hấp thu tốt hơn vào tổ chức, mô bị viêm.
G10 (2’-hydroxy-2,4-dimethoxychalcon) không có các nhóm thế methoxy trên ṿng A nhưng vẫn có tác dụng làm giảm độ phù chân chuột có ư nghĩa thống kê so với lô chứng. Điều này có thể giả thuyết rằng nhóm methoxy trên ṿng A không quan trọng, có thể giảm bớt một hoặc hai nhóm methoxy trên ṿng A để phân tử không cồng kềnh dễ hấp thu.
Liên quan cấu trúc và tác dụng
kháng viêm trên chuột nhắt các dẫn chất chalcon
(G1-G10) kết quả có thể tóm tắt như sau (xem H́nh 1):
- Các
nhóm methoxy trên ṿng A có thể không ảnh hưởng đến
hoạt tính kháng viêm in vivo, trong khi các nhóm methoxy trên ṿng B làm
tăng tác dụng
kháng viêm in vitro và in vivo của chalcon.
- Nhóm
2’-hydroxy có ảnh hưởng quyết định đến
tác dụng kháng viêm in vitro và in vivo của chalcon.

Tăng tác động kháng viêm
cho chalcon
Có khả năng không ảnh hưởng đến tác dụng
kháng viêm của chalcon
Có khả năng làm tăng tác dụng kháng viêm của
chalcon
H́nh 1. Ảnh hưởng
của các nhóm thế đối với tác dụng kháng viêm
của chalcon
Bằng phản
ứng ngưng tụ giữa dẫn chất acetophenon và dẫn
chất benzaldehyd trong môi trường kiềm, chúng tôi
đă tổng hợp được 10 dẫn chất
chalcon, trong đó 9 dẫn chất thuộc nhóm
2-hydroxychalcon, 1 dẫn chất chalcon không mang bất cứ
nhóm thế nào. Các chất này đều
được kiểm tra các thông số lư hóa và các phổ
IR, UV và NMR-H1.
Khảo sát tính kháng viêm trên
chuột nhắt dạng cream bôi ngoài da, mô h́nh gây sưng phù của Winter dùng chất gây
viêm là dung dịch carrageenin 1%, so sánh với chất đối
chiếu ketoprofen dạng cream 2,5%. Kết quả sàng lọc
được 6 dẫn chất G2, G3, G4, G7, G8 và G10 tác động kháng viêm so với
ketoprofen khác nhau không có ư nghĩa thống
kê tại mọi thời điểm thử nghiệm.
Điều này cho
thấy sự triển vọng của các hợp chất
chalcon vừa điều chế v́ ketoprofen là một loại
thốc kháng viêm thông dụng trên thị trường.
1.
Bohm, B.A., Introduction to Flavonoids, Volume
2; Harwood Academic publishers:
2.
Khan, S. A.;
Ahmed, B.; Alam, T. Synthesis and Antihepatotoxic Activity of Some New
Chalcones Containing 1,4 – Dioxane Ring System. Pak.
J. Pharm. Sci. 2006, 19 (4), 290-294.
3.
Kim, H. P.;
Son, K. H.; Chang, H. W.; Kang, S. S. Anti-inflammatory Plant Flavonoids and
Cellular Action Mechanism. Journal of Pharmacological Science. 2004, 96, 229 –
245.
4.
Miller, A.L.
Antioxidant Flavonoids: Structure, Function and Clinical Usage. (1996).
Alternative Medicine Review, 2(1), 103 – 111.
5.
Tran, D.-T.;
Kim, H. P.; Park, H. Synthesis and inhibitory activity of prostaglandin
production of 7-oxygenated-flavone analogs. (2005). The
Fourth Indochina Conference on Pharnaceutical Sciences,
6.
Tran Thanh
Dao, Synthesis and Biological Activities of Flavones and Related Compounds as
Anti-inflammatory Agents. (2004). Dissertation for the Degree of Doctor;
7.
Tran, D.-T.;
Kim, H. P.; Park, H. Synthesis and inhibitory activity of prostaglandin
production of 7-oxygenated-flavone analogs. (2005). The
Fourth Indochina Conference on Pharnaceutical Sciences,
8.
Tran, D.-T.;
Park, H.; Kim, H. P.; Ecker, G. F.; Thai, K.-M. Inhibitory activity of
prostaglandin E2 production by the synthetic 2’-hydroxychalcone
analogues: Synthesis and SAR study. (2009). Bioorganic & Medicinal
Chemistry Letter. 19, 1650 – 1653.
9.
Winter
C. A; Risley E. A. Carrageenin-induced edema in hind paw of the rat as an assay
for anti-inflammatory drugs. (1962). Proc. Soc. Exp. Biol Med. 111, 5544-7.