Nguyễn Hoài Nam[*],
Vơ Phùng Nguyên*, Trần Hùng*
Mục tiêu: Trong nghiên cứu này, hiệu quả
của berberin và palmatin trên khả năng học hỏi thu
nhận và gợi nhắc
trí nhớ h́nh ảnh và không gian được khảo sát
trên chuột nhắt gây mất trí nhớ bởi scopolamine
trong mô h́nh thử nghiệm nhận diện h́nh ảnh
(object recognition) và không gian (Morris Water Maze).
Phương
pháp: Trong quá tŕnh thu
nhận trí nhớ, chuột bị ức chế thu nhận
trí nhớ h́nh ảnh và không gian bởi scopolamine 1mg/kg tiêm
dưới da. Trong quá tŕnh gợi nhắc trí nhớ, chuột
bị gây mất trí nhớ không gian đă h́nh thành bởi
scopolamin 3 mg/kg tiêm dưới da và gây ra mất trí nhớ
h́nh ảnh bởi scopolamine 1mg/kg tiêm phúc mô. Liều dùng của
Berberin và Palmatin khảo sát trong cả 2 quá tŕnh là 50 mg/kg và
100 mg/kg.
Kết
quả: Berberin và
Palmatin được cho uống liều 50 mg/kg và 100 mg/kg cải
thiện t́nh trạng mất trí nhớ gây ra bởi
scopolamine ở chuột trong cả 2 quá tŕnh học hỏi
thu nhận trí nhớ và gợi nhắc trí nhớ khi so sánh
với nhóm chứng.
Kết
luận: Các kết quả
từ mô h́nh Morris Water Maze và Object Recognition (ở cả 2
quá tŕnh) dùng chuột đă làm suy giảm trí nhớ bằng
scopolamin, chúng tôi thấy rằng berberin và palmatin đă cải
thiện khả năng học hỏi và trí nhớ không gian
và h́nh ảnh của chuột. Tác động này khác không có
ư nghĩa với tác động của galantamin, một chất
ức chế acetylcholinesterase, được sử dụng
trong điều trị bệnh Alzheimer.
Từ
khóa: Alzheimer,
Berberin, Palmatin, Scopolamin, Acetylcholinesterase, Đồ h́nh
nước Morris Water Maze , Nhận diện vật thể.
EFFECTS OF BERBERIN AND
PALMATIN ON MOUSE’S OBJECT RECOGNITION AND SPATIAL MEMORY
Nguyen Hoai Nam, Vo Phung Nguyen, Tran Hung
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 -
Supplement of No 1 - 2010: 64 – 72
Objectives: In this study,
the efficacy of berberin and palmatin on learning to acquire memory and memory
retrieval was evaluated on scopolamine-induced amnesia mice in the Object
recognition and Morris Water Maze test.
Methods: Mice with amnesia in acquired process were induced by scopolamine 1
mg/kg, SC. In retrieval process, mice were caused memory to loss that was
established before by scopolamine 3 mg/kg, IP (spatial memory) or scopolamine 1
mg/kg, SC (object recognition memory). In this study, doses of berberin and
palmatin to evaluate in both 2 processes were 50 mg/kg and 100 mg/kg.
Results: The berberin or palmatin given orally at
the doses of 50 mg/kg and 100 mg/kg B.W. abolished the amnesic effect of
scopolamine in object regconition test and water maze test in 2 processes such
as acquire and retrieval memory when compared with control group.
Conclusions: In conclusion, based
on the results of the Morris water maze tests and Object recognition test (in
both two processes) using mice with amnesia induced by scopolamine, we found
that berberin and palmatin had improved learning and memory capacity that
impaired by scopolamine. The activities of berberin and palmatin on scopolamine
–induced amnesia mice are not significantly different with galantamin, an
acetylcholinesterase inhibitor, has been used in the treatment of Alzheimer’s
Disease.
Keywords: Alzheimer, Berberin, Palmatin, Scopolamin, Acetylcholinesterase, Morris Water Maze, Object recognition.
Berberin và Palmatin là các
alkaloid được chiết xuất từ dược
liệu, cách dùng cũng như tác động dược lư
của chúng đă được nghiên cứu khá nhiều
và đặt biệt là trên tác động kháng cholinesterase
in-vitro(11),(6),(10) và tác động phục hồi trí nhớ
bị suy giảm bởi scopolamin trên trí nhớ không gian
in-vivo (4), có tiềm năng trong điều trị
các bệnh liên quan tới suy giảm trí nhớ.
Trong phạm vi đề
tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tác động của
berberin và palmatin trên chức năng vận động tự
nhiên, ảnh hưởng trên sự phối hợp vận
động, trí nhớ h́nh ảnh và trí nhớ không gian ở
cả hai quá tŕnh học hỏi thu nhận trí nhớ và quá
tŕnh gợi nhắc trí nhớ đă h́nh thành bị làm suy giảm
bởi scopolamin.
Chuột nhắt trắng
chủng Swiss albino, khỏe mạnh, do Viện vacxin và sinh
phẩm y tế Nha Trang cung cấp. Chuột được
nuôi ổn định thành nhóm 6-8 chuột trong một hộp
nhựa trắng kích thước 28 x 30 x 15 (rộng x dài x cao)
(cm), một tuần trước
khi thử nghiệm trong môi trường chu tŕnh 12 giờ
sáng tối (7 giờ – 19 giờ) có nhiệt độ pḥng
là 27 0C, với thức ăn cám viên thành phần bột
gạo, bột bắp, vitamin bổ sung do Viện vacxin và
sinh phẩm thành phố Nha Trang cung cấp.
-
Scopolamin HBr (Sigma) do công ty
Sigma cung cấp.
-
Diazepam (Valium®)
5mg, do công ty Roche sản xuất.
-
Galantamin
(Reminyl ®) 4 mg, do công ty Janssen –cilag sản xuất.
-
Berberin
và Palmatin do bộ môn Dược liệu – Khoa Dược –
Đại học Y Dược TpHCM chiết xuất, phân lập
và tinh chế.
Khảo sát tác động trên chức
năng vận động tự nhiên – Mô h́nh môi trường
mở (Open Field) (1)
Chuột được chia ngẫu nhiên
thành 5 lô mỗi lô 6 – 8 con
Lô chứng : uống nước cất,
0,1 ml/10g thể trọng.
Lô chất thử: uống Berberin chlorid
được pha trong nước cất với các liều
50 mg/kg và 100 mg/kg.
Lô chất thử: uống Palmatin sulfat
được pha trong nước cất với các liều
50 mg/kg và 100 mg/kg.
Sau khi uống thuốc chuột được
đặt nhẹ nhàng vào một góc của hộp nhựa
với cường độ ánh sáng là 100 ± 5 lux và cho phép
chuột di chuyển tự do trong hộp nhựa trong ṿng 30 phút. Hoạt động
của chuột trong hộp nhựa được ghi h́nh và xem lại.
Đếm số ô chuột di chuyển và số lần chuột
đứng trên hai chân sau trong từng khoảng 5 phút. Chuột
được xem là di chuyển vào trong một ô khi đặt
cả 4 chân vào ô đó. Thuốc được xem là có ảnh
hưởng đến chức năng vận động
tự nhiên của chuột khi làm thay đổi khoảng
đường di chuyển của chuột (số ô) và số
lần đứng trên hai chân sau của chuột so với lô chứng.
Khảo sát tác động trên sự phối hợp vận
động – Mô h́nh thanh quay (Rotarod) (2),(7)
Thiết bị Joints & Roberts (Rota – Rod
Acceler For Mice 7650) được sử dụng trong
thử nghiệm này.
Chuột
được huấn luyện trong ṿng hai ngày trước
khi tiến hành thử nghiệm. Cố định số ṿng quay là 30 ṿng/phút. Cho chuột
lần lượt lên thanh quay tṛn, quan sát trong 5 phút, những
chuột rơi khỏi thanh quay trong ṿng 5 phút bị loại
ra khỏi thử nghiệm.
Thử nghiệm được tiến
hành sau 30 phút dùng chất thử hay chất đối chiếu.
Chuột được chia ngẫu nhiên thành 6 lô mỗi lô
6-8 chuột.
Lô chứng: cho chuột uống nước
cất với lượng 0,1ml/10g thể trọng
Lô thử: cho uống
Berberin chlorid pha trong nước cất với liều 50
mg/kg và 100 mg/kg, 0,1ml/10g trọng lượng.
Lô thử: cho uống
Palmatin sulfat pha trong nước cất với liều 50
mg/kg và 100 mg/kg, 0,1ml/10g trọng lượng.
Lô đối chiếu: cho uống
diazepam (Valium®) được pha trong nước cất,
liều 10 mg/kg.
Ghi nhận thời gian chuột
rơi khỏi thanh quay của mỗi lô, nếu sau 5 phút chuột
không rơi khỏi thanh quay ghi nhận thời gian là 300
giây. Thuốc được xem là có tác động khi làm giảm
tiềm thời rơi khỏi thanh quay của chuột.
Khảo
sát trí nhớ nhận diện h́nh ảnh – Object Recognition (5)
Chuột được
chia ngẫu nhiên thành 7 lô: mỗi lô từ 6 – 8 chuột
Lô chứng: tiêm dưới
da dung dịch NaCl 0,9%; 0,1 ml/10g trọng lượng, 30 phút
trước khi bắt đầu T1 (Chứng).
Lô mất trí nhớ: tiêm
dưới da scopolamin hydrobromide được pha trong dung
dịch NaCl 0,9%, liều 1 mg/kg, 0,1 ml/10g trọng lượng,
30 phút trước khi bắt đầu T1 (Scop).
Lô đối chiếu tiêm
dưới da scopolamin hydrobromide được pha trong dung
dịch NaCl 0,9%, liều 1 mg/kg, 0,1 ml/10g chuột, ngay sau
đó cho uống galantamin (Reminyl®) được
pha trong nước cất liều 2,5 mg/kg, 0,1 ml/10g trọng
lượng, 30 phút trước khi bắt đầu T1
(Scop + Gal 2,5).
Đối với các lô chất
thử Berberin và Palmatine, 30 phút trước khi bắt đầu
T1, scopolamin hydrobromide được pha trong dung dịch NaCl
0,9% tiêm dưới da, liều 1 mg/kg, 0,1 ml/10g chuột và
ngay sau đó cho uống hoặc Berberin chlorid hoặc Palmatin
sulfate được pha trong nước cất ở các liều
50 mg/kg, 100 mg/kg với thể tích cho uống là 0,1 ml/10g trọng
lượng (Scop + Ber 50; Scop + Ber 100; Scop + Pal 50; Scop + Pal 100).
Trong pha này chuột cũng được tiêm scopolamin và
cho uống chất thử nghiệm như trên, nhưng thời
điểm thực hiện
tiêm và cho uống là ngay sau khi đă được học hỏi
trong thử nghiệm T1
Một ngày trước thử
nghiệm, mỗi chuột được cho vào một hộp
nhựa thử nghiệm riêng (không có vật khảo sát)
để khám phá thiết bị trong ṿng 10 phút, các hộp
nhựa này được đặt ở vị trí sẽ
tiến hành thử nghiệm.
Thử nghiệm huấn
luyện T1: Lần lượt từng hộp nhựa thử
được đưa vào đúng vị trí thử nghiệm,
có camera ghi h́nh. Hai vật khảo sát hoàn toàn giống nhau
được đặt vào hộp nhựa một cách cân
xứng, đối diện nhau, cách cạnh ngắn và cạnh
dài của hộp nhựa lần lượt 6 cm và 8 cm. Chuột
được đặt nhẹ nhàng vào giữa hộp nhựa
và được khám phá 2 vật thể giống nhau này
trong 10 phút. Sau thử nghiệm T1 chuột được
đặt trở lại vào chuồng nuôi sau khoảng thời
gian 3 giờ bắt đầu thử nghiệm T2.
Thử nghiệm
lựa chọn T2 (choice trial): trong suốt thử nghiệm
T2 một vật lạ (novel) được thay cho một
trong hai vật quen
(familiar) đă hiện diện trong thử nghiệm huấn
luyện T1; cũng cho chuột khám phá hai vật khác nhau này
trong 10 phút.
Vật thể khảo sát: vật thể
dùng cho chuột nhận biết được làm bằng
inox màu trắng, có h́nh khối lập phương (1 x 1 cm)
hay h́nh trụ (Φ 1cm), với chiều cao 1,5
cm. Các vật thể này không mùi, không quá quan trọng hay ấn
tượng với chuột. Cường độ ánh sáng
dùng trong thử nghiệm là 100 ± 5 lux.
Tỉ số khám phá vật quen và lạ E (Exploration ratio)
được coi như chỉ số chính để
đo khả năng ghi nhớ trong thử nghiệm này,
được tính như sau: E=N/F
Thuốc
được xem là có tác động khi làm tăng tỉ số
khám phá vật quen và lạ.
Khảo sát trí nhớ nhận diện không
gian–Mô h́nh đồ h́nh nước (Morris Water Maze) (3),(6) ,(9),(11)
Bể
chứa nước h́nh tṛn bằng inox, đường
kính 1,5 m, chiều cao 80 cm, được dán decal đen ở
mặt trong, bốn điểm được phân bố bằng
nhau dọc theo chu vi của bể được dùng
như những vị trí khởi đầu. Bể
được chia thành bốn phần bằng nhau và một
chân đế nhỏ (cao 25 cm) được đặt
vào chính giữa của một trong những phần tư
này. Vị trí đặt của chân đế được
cố định trong suốt thời gian thử nghiệm.
Xung quanh bể nước được bố trí 3 h́nh ảnh
ở 3 vị trí khác nhau được sử dụng
như những định hướng không gian. Mực
nước trong bể cao hơn chân đế 0,5 cm, nhiệt
độ 27 0C ± 1
Chuột
được chia ngẫu nhiên thành 5 lô: mỗi lô từ 6
– 8 chuột
-
Lô chứng: dung dịch NaCl
0,9%, SC, 0,1 ml/10g thể trọng, 30 phút trước khi bắt
đầu T1.
-
Lô mất trí nhớ: tiêm
dưới da scopolamin hydrobromide được pha trong dung
dịch NaCl 0,9%, liều 1 mg/kg, 0,1 ml/10 g trọng lượng,
30 phút trước khi bắt đầu T1 (Scop).
-
Lô đối chiếu tiêm
dưới da scopolamin hydrobromide được pha trong dung
dịch NaCl 0,9%, liều 1 mg/kg, 0,1 ml/10g chuột, ngay sau
đó cho uống galantamin (Reminyl®) được pha trong
nước cất liều 5 mg/kg, 0,1 ml/10 g trọng lượng,
30 phút trước khi bắt đầu T1 (Scop + Gal 5 mg/kg).
-
Đối với các lô chất
thử Berberin và Palmatine, 30 phút trước khi bắt đầu
T1, scopolamin hydrobromide được pha trong dung dịch NaCl
0,9% tiêm dưới da, liều 1 mg/kg, 0,1 ml/10 g chuột và
ngay sau đó cho uống hoặc Berberin Chlorid hoặc Palmatin
sulfate được pha trong nước cất ở các liều
50 mg/kg và 100 mg/kg, với thể tích cho uống là 0,1 ml/10 g
trọng lượng (Scop + Ber 50; Scop + Pal 50, Scop + Ber 100;
Scop + Pal 100).
Chuột
được huấn luyện và thử nghiệm trong
ṿng 7 ngày.
Ngày đầu
tiên (0) chuột được cho
bơi tự do trong ṿng 60 giây để làm quen với hồ.
Ngày
1-5: tiến hành với 2 thử nghiệm, mỗi thử
nghiệm cách nhau 20 phút. Trong 1 thử nghiệm, chuột
được cho bơi trong 120 giây để t́m chân đế
ẩn dưới mặt nước. Sau khi kết thúc thử
nghiệm T1 chuột được lau khô, đặt vào
keo thủy tinh và được sưởi ấm bằng
đen chiếu tia hồng ngoại trong 15 phút để bắt
đầu cho thử nghiệm T2, kết thúc thử nghiệm
T2 chuột cũng được sưởi ấm như
trên sau đó trả về chuồng nuôi. Trong suốt quá
tŕnh huấn luyện nếu kết thúc 120 giây mà chuột
không t́m thấy chân đế th́ hướng dẫn chuột
t́m đến chân đế bằng cách đặt ngón tay
lên trên chân đế và cho phép chuột đứng đó
trong 10 giây để quan sát xung quanh trước khi đỡ
chuột ra khỏi bể nước.
Ngày
thứ 6: tiến hành thử nghiệm với chân đế
được lấy ra khỏi hồ nước. Chuột
được cho bơi trong hồ với thời gian 60 giây. Kết thúc
thử nghiệm, lấy chuột ra khỏi hồ và lau
khô.
Chuột
được chia ngẫu nhiên thành 4 lô: mỗi lô từ 6
– 8 chuột. Chuột trong các lô được huấn luyện
trong 4 ngày, mỗi ngày 2 thử nghiệm tương tự
trong huấn luyện trong pha học hỏi, thu nhận trí
nhớ. Tuy nhiên scopolamin và các chất thử chỉ
được sử dùng vào ngày đánh giá (ngày thứ 5).
Đánh giá tác động của thuốc
qua việc so sánh tiềm thời t́m đến chân đế
của chuột, thời gian chuột trải trải qua
trong ¼ hồ có chứ chân đế và số lần chuột
bơi qua vị trí đặt chân đế giữa các lô với
nhau.
Thống kê kết quả
Dữ
liệu được tŕnh bày ở dạng số trung
b́nh (TB) ± sai số chuẩn của số trung bình (SEM).
Số liệu được thống kê bằng phần mềm
Minitab 14.0. Các dăy số liệu được so sánh bằng
phép kiểm Kruskal Wallis, nếu có sự khác nhau sẽ tiếp
tục được so sánh từng cặp bằng phép kiểm
Mann Whitney. Đồ thị được vẽ bằng
phần mềm SigmaPlot 10.0.


A B
H́nh
1. (A) Khoảng đường di chuyển
của chuột (số ô); (B) lần đứng trên 2 chân
sau của chuột tại các thời điểm 5, 10, 15,
20, 25, 30 phút sau khi dùng thuốc Berberin (50 mg/kg và 100 mg/kg, uống),
Palmatin (50 mg/kg và 100 mg/kg, uống) trong mô h́nh môi trường
mở
Tại các thời điểm
5, 10, 15, 20, 25 và 30 phút sau khi uống Berberin, các lô dùng Berberin
và Palmatin liều 50 mg/kg và 100 mg/kg, cho uống có làm gia
tăng khoảng đường di chuyển và số lần
đứng trên 2 chân sau của chuột nhưng sự khác
biệt giữa các lô này so với lô chứng vẫn
chưa có ư nghĩa thống kê với khoảng tin cậy
99%. Khoảng đường di chuyển và số lần
đứng trên 2 chân sau của chuột cũng tăng khi
tăng liều, tuy nhiên sự thay đổi này chưa có ư
nghĩa thống kê so với lô chứng và lô dùng liều thấp
hơn. Chức năng vận động tự nhiên của
chuột uống Berberin và Palmatin ở các liều khảo
sát cũng không khác có ư nghĩa khi so sánh với nhau trong suốt
30 phút sau khi được cho uống.
Như vậy, Berberin và Palmatin ở liều khảo sát không ảnh hưởng đến chức năng vận động tự nhiên và hoạt động khám phá của chuột tại các thời điểm sau khi uống.

H́nh 2. Tiềm thời rơi khỏi thanh
quay của chuột trong 30 phút và 60 phút sau khi uống Berberin
(50 mg/kg, 100 mg/kg), Palmatin (50 mg/kg, Palmatin 100 mg/kg) và diazepam 10
mg/kg trong mô h́nh thanh quay. ***P<0,001 so với nhóm chứng và
các nhóm uống Berberin và Palmatin (50 mg/kg 100 mg/kg).
Tại thời điểm
30 và 60 phút sau khi sử dụng thuốc, lô uống Berberin
(50 mg/kg và 100 mg/kg) và lô uống Palmatin (50 mg/kg và 100 mg/kg) không
làm thay đổi tiềm thời chuột rơi khỏi
thanh quay có ư nghĩa thống kê khi so với lô chứng với
khoảng tin cậy 99%.
C̣n lô uống diazepam 10 mg/kg
làm giảm tiềm thời chuột rơi khỏi thanh quay
có ư nghĩa thống kê (P<0,001) khi so với lô chứng, lô
uống Berberin (50 mg/kg, 100 mg/kg) và lô uống Palmatin (50 mg/kg,
100 mg/kg).
Như vậy, Berberin và Palmatin không ảnh hưởng lên chức năng phối hợp vận động của chuột ở liều khảo sát. Các thử nghiệm liên quan đến trí nhớ có sự ảnh hưởng bởi chức năng phối hợp vận động sẽ không bị ảnh hưởng ở các liều khảo sát 50 mg/kg và 100 mg/kg.
* Pha
học hỏi, thu nhận trí nhớ

H́nh 3. Ảnh hưởng trên tỉ số
khám phá vật khảo sát quen và lạ trong mô h́nh trí nhớ
h́nh ảnh của các chất thử nghiệm, **P<0,01 so
với lô scopolamin, ##P<0,01 so với lô chứng.
- Lô tiêm dưới da scopolamin 1 mg/kg làm giảm tỉ số khám phá vật khảo sát quen và lạ có ư nghĩa thống kê (## P<0,01) so với lô chứng.
- Các lô cho uống Berberin (50 mg/kg và 100 mg/kg), lô
cho uống Palmatin (50 mg/kg, 100 mg/kg) và lô cho uống Galantamin 2,5 mg/kg ngay sau khi tiêm dưới da
scopolamin 1 mg/kg có tác động làm tăng có ư nghĩa thống
kê (**P<0,01) tỉ số khám phá vật khảo sát quen và lạ
khi so sánh với lô chỉ tiêm dưới da scopolamin 1 mg/kg.
- Sự khác biệt về
tỉ số khám phá giữa các lô chứng, lô tiêm scopolamin 1
mg/kg + Berberin (50 mg/kg, 100 mg/kg, uống), lô tiêm scopolamin 1 mg/kg
+ Palmatin (50 mg/kg, 100 mg/kg, uống) và lô tiêm scopolamin 1 mg/kg +
Galantamin 2,5 mg/kg mặc dù có thấy sự khác biệt
nhưng sự khác biệt này không có ư nghĩa thống kê
(khoảng tin cậy 99%).
Như vậy: Scopolamin 1
mg/kg, tiêm dưới da có tác động phá hủy sự
thu nhận trí nhớ trong quá tŕnh huấn luyện thử
nghiệm T1. Berberin (50 mg/kg và 100 mg/kg), Palmatin (50 mg/kg và 100
mg/kg) và Galantamin 2,5 mg/kg có tác động bảo vệ và
ngăn chặn sự phá hủy tiến tŕnh thu nhận trí
nhớ h́nh ảnh gây ra bởi việc tiêm dưới da
scopolamin 1 mg/kg. Sự khác biệt ở các lô điều trị
chưa có ư nghĩa thống kê, khoảng tin cậy 99%.
* Pha gợi nhắc trí nhớ h́nh ảnh đă h́nh thành.

H́nh 4. Ảnh hưởng của các chất
thử nghiệm trên tỉ số khám phá vật khảo sát
quen và lạ trong mô h́nh trí nhớ h́nh ảnh, **P<0,01 so với
lô scopolamin, #P<0,05 so với lô chứng.
Lô scopolamin tiêm dưới da với liều 1 mg/kg làm giảm tỉ
số khám phá vật quen và lạ có ư nghĩa thống kê
(#P<0,05) ở khoảng tin cậy 99% khi so sánh với lô chứng
Các lô cho uống
Berberin (50 mg/kg và 100 mg/kg) và Palmatin (50 mg/kg và 100 mg/kg) có tác
động làm tăng tỉ số khám phá vật quen và lạ
có ư nghĩa thống kê (**P<0,01) khi so sánh với lô chỉ
tiêm scopolamin 1 mg/kg, tiêm dưới da, khoảng tin cậy
99%.
Như vậy, scopolamin ở liều 1 mg/kg tiêm dưới da có tác động phá hủy quá tŕnh gợi nhắc trí nhớ h́nh ảnh đă h́nh thành trước đó. Và sự phá hủy này bị ngăn chặn và đảo ngược bởi tác động phục hồi của berberin (50 mg/kg, uống) và palmatin (50 mg/kg, uống) thể trên việc so sánh tỉ số khám phá vật quen và lạ giữa các lô.


A B
H́nh 5. (A) Tiềm thời t́m đến chân
đế trong các ngày huấn luyện; (B) Tiềm thời
so sánh ngày 1 và 5 ở các lô thử, *P<0,05; **P<0,01 so với
ngày thứ 1 trong cùng 1 lô, #P<0,05; ##P<0,01
so sánh với lô scopolamin cùng ngày.


A B
H́nh 6. (A)Ảnh hưởng trên thời
gian chuột ở trong 1/4 hồ có chứa chân đế ở
ngày thứ 6 của các chất thử nghiệm, ##P<0,01
so với lô chứng, *P<0,05 so với lô scopolamin, **P<0,01
so với lô scopolamin. (B) Ảnh trên số lần chuột
bơi qua vị trí đặt chân đế ở ngày thứ
6 của các chất thử nghiệm, *P<0,05 so với lô
scopolamin; **P<0,01 so với lô scopolamin.
Ở các lô chứng, lô tiêm dưới da
scopolamin 1 mg/kg + uống Berberin (50 mg/kg và 100 mg/kg), lô tiêm
dưới da scopolamin 1
mg/kg + uống Palmatin (50 mg/kg và 100 mg/kg) và lô tiêm dưới
da scopolamin 1 mg/kg + uống Galantamin 5 mg/kg đều cho thấy
tác động làm tăng số lần chuột bơi qua vị
trí đặt chân đế rơ rệt so với số lần
bơi qua vị trí chân đế của chuột lô chỉ
tiêm dưới da scopolamin 1 mg/kg, P<0,05 và P<0,01 ở khoảng tin cậy
99%.
Như vậy,
trong pha học hỏi, thu nhận trí nhớ về vị
trí chân đế (thời gian ở ¼ hồ chứ chân
đế và số lần bơi qua vị trí chân đế)
th́ scopolamin liều 1 mg/kg tiêm dưới da có tác động
phá hủy tiến tŕnh thu nhận trí nhớ này. Berberin (50
mg/kg và 100 mg/kg), palmatin (50 mg/kg và 100 mg/kg), hoặc galantamin (5
mg/kg) có tác động bảo vệ, ngăn chặn sự
phá hủy tiến tŕnh này. Tác động của Berberin và
Palmatin ở các liều khác nhau chưa cho thấy sự
khác biệt có ư nghĩa và cũng không có khác biệt so với
lô dùng galantamin.

H́nh 7. Tiềm thời t́m đến
chân đế trong các ngày huấn luyện trong thử nghiệm
gợi nhắc trí nhớ
Lô tiêm phúc mô scopolamin 3 mg/kg có tác động làm
giảm số lần bơi qua vị trí đặt chân
đế của chuột, sự khác biệt có ư nghĩa thống kê khi so sánh với
lô chứng (#P<0,05).
Lô tiêm phúc
mô scopolamin 3 mg/kg + uống Berberin 50 mg/kg và lô tiêm phúc mô
scopolamin 3 mg/kg + uống Palmatin 50 mg/kg có tác động làm
tăng thời gian chuột ở ¼ hồ chứa chân đế
và số lần chuột bơi qua vị trí đặt chân
đế có ư nghĩa thống kê (*P<0,05; *P<0,01) so với
lô scopolamin ở khoảng tin cậy 99%. Sự khác biệt
về thời gian chuột bơi trong ¼ hồ chứa chân
đế và số lần bơi qua vị trí chân đế
giữa các lô (trừ lô scopolamin) tuy có khác nhau, nhưng sự
khác biệt này chưa có ư nghĩa thống kê, khoảng tin
cậy 99%.
Như vậy:
- Scopolamin có tác động làm giảm
quá tŕnh học hỏi thu nhận trí nhớ ở liều 1
mg/kg, tiêm dưới da. Ở liều 3 mg/kg, khi được
tiêm phúc mô, scopolamin có tác động ức chế quá tŕnh gợi
nhắc trí nhớ không gian đă h́nh thành
trên chuột nhắt trắng.
- Berberin và Palmatin
ở liều 50 mg/kg và 100 mg/kg có tác động phục hồi
lại quá tŕnh thu nhận trí nhớ bị suy giảm gây ra
bởi scopolamin 1 mg/kg, tiêm dưới da. Và tác động
phục hồi này không khác tác động của galantamin 5
mg/kg dùng đường uống khi so sánh về thời
gian chuột bơi trong ¼ hồ có chứa chân đế
cũng như số lần chuột bơi qua vị trí
đặt chân đế.
- Berberin và Palmatin
ở liều dùng 50 mg/kg có tác động phục hồi lại
quá tŕnh gợi nhắc trí nhớ đă h́nh thành bị suy giảm
gây ra bởi scopolamin 3 mg/kg,
tiêm phúc mô.
Trong thử nghiệm khảo sát tác động của của berberin và palmatin trên chức năng vận động tự nhiên và phối hợp vận động, cho thấy berberin và palmatin ở liều 50 mg/kg không ảnh hưởng tới 2 chức năng này. Từ đó, tiến hành thử nghiệm khảo sát tác động của berberin và palmatin trên trí nhớ không gian. Trong mô h́nh Morris Water Maze, ở cả 2 giai đoạn: học hỏi thu nhận trí nhớ và gợi nhắc trí nhớ đă h́nh thành trước đó cho thấy berberin và palmatin ở liều khảo sát 50 mg/kg có tác động bảo vệ và phục hồi tốt trí nhớ không gian bị làm suy giảm bởi scopolamin. Do đó, đây có thể là các thuốc mới trong nghiên cứu thuốc chữa bệnh về suy giảm nhận thức, đặc biệt là Alzheimer.
1. Alexandra Montkowski, Markus Poettig, Anna Mederer, and Florian Holsboer (1997), "Behavioural performance in three substrains of mouse strain 129", Brain research, 762 (12), p. 12-18.
2.
3. Chen Z, Xu AJ, Li R, Wei EQ (2002), “Reversal of scopolamine-induced spatial memory deficits in rats by TAK-147”, Acta Pharmacol Sin, 23(4). Pp 355-360.
6. Feiqi Zhu, Caiyun Qian ( 2006), “Berberine chloride can ameliorate the spatial memory impairment and increase the expression of interleukin-1beta and inducible nitric oxide synthase in the rat model of Alzheimers disease.”, BMC Neurosci, 7(1), pp 78.
8. Karyn M. Frick, Nancy A. Stearns, Jing-Yu Pan, and Joanne Berger-Sweeney (2003), "Effects of Environmental Enrichment on Spatial Memory and Neurochemistry in Middle-Aged Mice", Learning & Memory, 10, p. 187-198.
9. R. H. F. Manske, H. L. Holmes (1954), Berberin, The Alkaloids – Chemistry and Physiology Volume IV, Academic Press Inc, U.S.A, pp 78 – 92.
10. Richard E. Brown, Lianne Stanford, and Heather M. Schellinck (2000), "Developing Standardized Behaviorals for Knockout and Mutant Mice", ILAR Journal 41 (3).
[*] Khoa
Dược - Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí
Minh
Địa chỉ liên hệ: DS.
Nguyễn Hoài Nam ĐT: 0937 859 209 Email: hoainam_d2004@yahoo.com.vn