Ngô Kiến Đức[*], Trần Mạnh Hùng*
Mở đầu: 3-MCPD là một dư phẩm
được tạo ra trong quá trình thủy phân protein thực
vật dưới sự xúc tác của acid. Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh
độc tính của 3-MCPD trên thận, cơ quan sinh dục và tiềm năng gây ung thư. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành theo dõi
độc tính của 3-MCPD trên hình thái hồng cầu và sự
tạo vi nhân.
Mục
tiêu: Nghiên cứu
này bao gồm 2 mục tiêu sau: 1) Nghiên cứu độc tính
của 3-MCPD trên hình thái của hồng cầu, và 2) Nghiên cứu
độc tính của 3-MCPD trên nhiễm sắc thể qua
phương pháp quan sát sự hình thành vi nhân.
Phương
pháp: Chuột nhắt
trắng được cho uống 3-MCPD trong 6 tháng ở
các liều 1 mg/kg, 10 mg/kg và 20 mg/kg. Ở thời điểm
kết thúc khảo sát (sau 6 tháng), máu chuột thí nghiệm
được thu thập và khảo sát hình thái hồng cầu
và sự tạo vi nhân dựa trên phương pháp nhuộm màu bằng Giemsa.
Kết
quả: 3-MCPD gây thay
đổi rõ rệt hình thái hồng cầu: gây giảm thể
tích hồng cầu, tăng sắc tố và chuyển sang dạng hồng cầu
gai. Bên cạnh đó, sử dụng kéo dài 3-MCPD cũng gây sự gia tăng hình thành các vi
nhân trên hồng cầu
(một biểu hiện của tổn thương nhiễm
sắc thể). Những tác động này của 3-MCPD
tăng rõ hơn khi sử dụng kèm theo ethanol.
Kết
luận: 3-MCPD ở các
liều 1 mg/kg, 10 mg/kg và 20 mg/kg sử dụng trong 6 tháng gây
thay đổi hình thái hồng cầu và gây tổn
thương nhiễm sắc thể, vì thế có thể tác động
đến chức năng hồng cầu và nguy cơ gây ung thư.
Từ
khóa: 3-MCPD, hồng cầu gai, vi nhân, độc tính mạn tính
3-MONOCHLOROPROPAN-1,2-DIOL
(3-MCPD) AFFECTED ERYTHROCYTE MORPHOLOGY AND NEUTROPHIL COUNT ON EXPERIMENTAL
MICE
Ngo
Kien Duc, Tran Manh Hung * Y Hoc TP.Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1
-2010: 47-51
Background: 3-MCPD is a
toxic chemical produced by acid-hydrolyzed protein processes. There are bodies
of evidence showing toxic effects of 3-MCPD on kidney, reproductive organs and
carcinogenic property. In this study, we investigated the subchronic toxicity
of 3-MCPD on erythrocyte morphology and blood cell count.
Method: mice were orally
administered 3-MCPD at doses of 1 mg/kg, 10 mg/kg or 20 mg/kg for 6 months. At
the end of the study, blood was collected and erythrocyte morphology was examined.
The micronucleus test was also performed on erythrocyte to investigate the
ability of 3-MCPD to induce numerical or structural chromosomal damage.
Results: 3-MCPD induced
changes in erythrocyte morphology, including decrease of size, increase of pigment
and transforming to crenated cells. The micronucleus formation in erythrocyte
was also increased in 3-MCPD treated groups. These toxic effects of 3-MCPD
appeared to be potentiated by the presence of ethanol.
Conclusion: 3-MCPD at doses
of 1, 10, or 20 mg/kg, administered in 6 months induced significant changes in
erythrocyte morphology and genotoxicity, which may affect the function of
erythrocytes in circulation.
Keywords: 3-MCPD, crenated erythrocyte, micronucleus, chronic toxicity
3-Monochloropropane-1,2-diol
(3-MCPD) là một sản phẩm phụ trong quá trình sản
xuất nhiều loại thực phẩm. 3-MCPD được
hình thành từ phản ứng giữa chất béo và ion Cl-
(ví dụ NaCl) ở nhiệt độ cao (Food Standards Agency
2001). Ngoài ra, 3-MCPD cũng được tạo
ra trong quá trình thủy phân protein thực vật bằng acid
hydrochloric (HCl) (Collier 1991). 3-MCPD thường hiện diện
ở hàm lượng rất thấp (<1 mg/kg) nhưng một vài loại sản phẩm có thể
chứa với hàm lượng cao (lên đến hàng trăm mg/kg).
Các nghiên cứu trên thú vật
cho thấy, 3-MCPD là chất có tiềm năng gây ung thư trên nhiều
cơ quan
khác nhau ở chuột cống chủng
F344 (Sunahara 1993, Lynch 1998). Nghiên cứu in vitro cũng cho thấy 3-MCPD cho kết quả dương tính trên thử nghiệm gây đột biến gen
(Silhankova 1982, Zeiger 1988; Lynch 1998). Mặc dù đã có rất
nhiều nghiên cứu về độc tính của 3-MCPD, tuy
nhiên các dữ liệu về độc tính của 3-MCPD
trên máu vẫn chưa được đầy
đủ. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đặt mục
tiêu khảo sát độc tính của 3-MCPD trên chuột nhắt
sau khi cho uống 3-MCPD trong 6 tháng liên tục với các chỉ
tiêu đánh giá là hình thái hồng cầu và sự tạo vi
nhân.
Thú vật
thử nghiệm là chuột nhắt trắng, chủng Swiss
albino, giống đực, có trọng lượng từ
18-20 g, được phân bố ngẫu nhiên thành nhiều
lô khác nhau, mỗi lô từ 6-20 con. Chuột được
nuôi trong môi trường tiến hành thực nghiệm từ
3-5 ngày để thích nghi với môi trường. Hàng tuần,
chuột được theo dõi thể trọng và lượng
nước tiêu thụ để điều chỉnh
lượng 3-MCPD thích hợp. Kết thúc giai đoạn
thí nghiệm, chuột được lấy máu để
phân tích.
- Nhóm chứng: uống nước sinh hoạt trong 6
tháng, n = 18
- Nhóm 1: uống 3-MCPD 1 mg/kg/ngày pha trong nước uống
sinh hoạt trong 6 tháng, n=18
- Nhóm 2: uống 3-MCPD 10 mg/kg/ngày pha trong nước uống
sinh hoạt trong 6 tháng, n=11
- Nhóm 3: uống 3-MCPD 20 mg/kg/ngày pha trong nước uống
sinh hoạt trong 6 tháng, n=14
- Nhóm 4: uống ethanol 1% pha trong nước uống sinh
hoạt trong 6 tháng, n = 6
- Nhóm 5: uống ethanol 5% pha trong nước uống sinh
hoạt trong 6 tháng, n = 7
- Nhóm 6: uống ethanol 1% + 3-MCPD 1 mg/kg/ngày trong 6 tháng, n = 6
- Nhóm 7: uống ethanol 5% + 3-MCPD 1 mg/kg/ngày trong 6 tháng, n = 6
- Nhóm 8: uống ethanol 1% + 3-MCPD 10 mg/kg/ngày trong 6 tháng, n =
8
- Nhóm 9: uống ethanol 5% + 3-MCPD 10 mg/kg/ngày trong 6 tháng, n =
7
Để
phân tích hình thái hồng cầu, máu được phết
trên lam kính, cố định bằng methanol, để khô,
rồi sau đó nhuộm màu bằng thuốc thử Giemsa.
Thử nghiệm này
được thiết kế nhằm đánh giá các hóa chất
có khả năng gây tổn thương nhiễm sắc thể. “Vi
nhân” là một nhân nhỏ hình thành và xuất hiện bên cạnh
nhân bình thường. Trong quá trình phân bào, nhiễm sắc thể
sẽ nhân đôi và sau đó phân chia vào 2 tế bào con. Nếu
tiến trình này bị gián đoạn, hoặc nhiễm sắc
thể bị phá vỡ bởi hóa chất hay bức xạ
thì sự phân bố nhiễm sắc thể vào 2 tế bào
con bị ảnh hưởng và một vi nhân sẽ hình
thành do không được tích hợp vào nhân chung. Hiện
tượng này có thể được quan sát dưới
kính hiển vi sau khi nhuộm màu nhân bằng thuốc thử
thích hợp (Witt 2008).
Phân tích thống kêSử dụng phép phân tích
mẫu
Trong suốt quá trình thử nghiệm, chúng tôi theo dõi thể trọng và lượng nước uống trung bình của chuột (trong những nhóm nhỏ từ 4-6 chuột) theo từng ngày và từng tuần để có thể điều chỉnh lượng 3-MCPD đúng theo liều lượng thiết kế nghiên cứu. Kết quả được trình bày ở hình 1.

Hình 1. Lượng nước tiêu thụ
và thể trọng của chuột ở các lô thí nghiệm
Sau 6 tháng sử dụng
3-MCPD, hình thái hồng cầu ở các lô sử dụng
3-MCPD có những thay đổi đáng kể. Ở nhóm chứng,
hình thái hồng cầu hoàn toàn bình thường với dạng
hình đĩa,
sắc tố bình thường.
Trong khi ở nhóm sử dụng 3-MCPD 1 mg/kg, hồng cầu
mất đi dạng hình đĩa và gia tăng sắc tố. Ở nhóm sử dụng 3-MCPD
10 mg/kg và 20 mg/kg, chúng tôi nhận thấy hồng cầu chuyển
sang dạng hình cầu gai và bắt màu rất đậm
(hình 2).
Hình 2. Hình thái hồng cầu ở nhóm
chứng và nhóm uống 3-MCPD (x 1000)
Ở hình
2, chúng tôi quan sát thấy có sự hình thành vi nhân ở các
nhóm uống 3-MCPD (mũi tên) trong khi ở nhóm chứng, hầu
như rất
hiếm gặp hồng cầu có vi nhân. Số lượng
vi nhân tăng cao theo nồng độ 3-MCPD sử dụng, giữa liều
1 mg/kg và liều 10 mg/kg. Sự hình thành vi nhân chứng tỏ
3-MCPD gây tổn thương nhiễm sắc thể trên các
hồng cầu lưới. Kết quả được
trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. Số lượng
vi nhân hình thành trên 1 thị trường quan sát (x 1000 lần)
|
Nhóm |
Chứng |
3-MCPD 1 mg/kg (n = 6) |
3-MCPD 10 mg/kg (n = 6) |
3-MCPD 20 mg/kg (n = 6) |
|
Số hồng cầu có vi nhân/tổng số hồng cầu quan sát trong 1 thị trường |
0/176 1/254 0/127 0/163 0/181 1/205 |
3/114 15/177 7/124 13/111 5/119 20/244 |
126/136 213/216 131/233 86/113 100/207 110/140 |
176/230 134/192 36/105 49/102 85/110 74/102 |
|
% hồng cầu chứa vi nhân |
0,18 ± 0,01 |
6,81 ± 1,35** |
73,30 ± 2,26*** |
63,32 ± 7,01*** |
**p < 0,01; ***p < 0,001 so với
nhóm chứng
Mặc dù 3-MCPD gây những
thay đổi đáng kể trên hình thái hồng cầu và sự
tạo vi nhân, tuy nhiên khi xác định tổng lượng
hồng cầu (RBC) giữa nhóm chứng và nhóm sử dụng
3-MCPD, chúng tôi nhận thấy 3-MCPD không ảnh hưởng
đến tổng lượng hồng cầu và hàm lượng
hemoglobin (Hb). Ở nhóm sử dụng 3-MCPD 1 mg/kg, có sự
giảm nhẹ hàm lượng hematocrit (Hct) và thể tích
trung bình của hồng cầu (MCV) nhưng điều này không xảy ra trên các nhóm sử dụng
3-MCPD 10 mg/kg hay 20 mg/kg (hình 3). Trên chỉ số MCHC (nồng
độ huyết sắc tố trong hồng cầu), các
nhóm sử dụng 3-MCPD đều tăng so với nhóm chứng (hình 4).

Hình 3. Số lượng hồng cầu
và các chỉ số liên quan của các lô thí nghiệm
Do 3-MCPD được khử độc bằng
phản ứng liên hợp với glutathion để tạo
thành S-(2,3-dihydroxypropyl)cystein và
N-acetyl-S-(2,3-dihydroxypropyl)cystein (Jones 1975). Ngoài ra, khi sử dụng
ethanol kéo dài có thể gây suy giảm hàm lượng
glutathion, vì thế chúng tôi nghiên cứu trong điều kiện
có sự hiện diện của 1 yếu tố nguy cơ
(ethanol), liệu độc tính của 3-MCPD có gia tăng hay không.
Về mặt hình thái, việc sử dụng đồng thời 3-MCPD (10 mg/kg) và ethanol (1% hay 5%) cũng gây hiện tượng hồng cầu gai rõ rệt, trong khi nhóm chứng và nhóm sử dụng ethanol có hình thái hồng cầu bình thường. Về sự tạo vi nhân, sử dụng kết hợp 3-MCPD 10 mg/kg + ethanol 5% làm tăng tỷ lệ hồng cầu có vi nhân lên đến khoảng 90% (bảng 2).
Bảng 2. Hình thái hồng cầu và tỷ lệ tạo vi nhân ở các nhóm thí nghiệm
|
Nhóm |
Hình thái |
% hồng cầu có vi nhân |
|
Chứng (n=15) |
Bình thường |
0,18 ± 0,01 |
|
Ethanol 1% (n = 6) |
Bình thường |
0,67 ± 0,31 |
|
Ethanol 5% (n = 7) |
Bình thường |
3,39 ± 2,94 |
|
Ethanol 1%+3-MCPD 1 mg/kg (n=
6) |
Hồng cầu
tăng sắc |
8,29 ± 7,9 |
|
Ethanol 5%+3-MCPD 1 mg/kg (n=
7) |
Hồng cầu
tăng sắc |
7,29 ± 3,89 |
|
Ethanol 1% + 3-MCPD 10 mg/kg
(n=8) |
Hồng cầu gai |
41,72 ± 19,87** |
|
Ethanol 5% + 3-MCPD 10 mg/kg
(n= 7) |
Hồng cầu gai |
86,99 ± 4,45*** |
**p <0,01; ***p <0,001 so với nhóm chứng
Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu về độc tính của 3-MCPD trên máu đã công bố, và những nghiên cứu này sử dụng 3-MCPD ở liều thấp nhất là 30 mg/kg trong 4-14 tuần. Các kết quả cho thấy 3-MCPD gây thiếu máu, suy tủy và giảm bạch cầu (Kirton 1970, Marchesini 1989, Cho 2008). Trong nghiên cứu của chúng tôi, 3-MCPD không gây thiếu máu nhưng gây giảm nhẹ thể tích hồng cầu và gia tăng nồng độ huyết sắc tố. Điều này cho thấy sự thay đổi hình thái hồng cầu quan sát được không liên quan đến tình trạng tán huyết và sự tạo hồng cầu.
Hồng cầu gai quan sát
được trong nghiên cứu của chúng tôi, mặc dù
chưa xác định
được ý nghĩa
bệnh học thật sự của hiện tương này, nhưng điều này có thể làm thay đổi chức
năng của hồng cầu và có thể gây những
biến chứng bất lợi về huyết động.
Ngoài ra, 3-MCPD ở liều 1 mg/kg đã gây hiện tượng tạo vi nhân rõ rệt so với nhóm chứng. Bình thường, hồng cầu trưởng thành và lưu thông trong máu ngoại vi là những tế bào không nhân. Sự tạo vi nhân trên hồng cầu của 3-MCPD cho thấy hóa chất này tác động lên nhiễm sắc thể của những tế bào tiền hồng cầu và có thể gồm cả hồng cầu lưới.
1. Cho W-S, Han BS, Lee H, Kim C, Nam KT, Park KD, Choi M, Kim SJ, Kim SH, Jeong J, Jang DD (2008) Subchronic toxicity study of 3-monochloropropane-1,2-diol administered by drinking water to B6C3F1 mice. Food & Chem. Toxicol. 46: 1666–1673
2. Collier PD, Cromiue DDO, & Davies AP (1991) Mechanisms of formation of chloropropanols present in protein hydrolysates. J. Am. Oil Chem. Soc., 68, 785–790.
3. Food Standards Agency (2001). Survey of 3-monochloropropane-1,2-diol (3-MCPD) in soy sauce and related products. No: 14/01, Food Standards Agency.
4.
5. Jones AR, Milton DH & Murcott C (1978) The oxidative metabolism of alpha-chlorohydrin in the male rat and the formation of spermatocele. Xenobiotica, 8, 573–582.
6. Lynch BS, Bryant DB, Hook GJ, Nestmann ER & Munro IC (1998) Carcinogenicity of monochloro-1,2-propanediol (alpha-chlorohydrin, 3-MCPD). Int. J. Toxicol., 17, 47–76.
7.
Marchesini M & Stalder R (1983) Toxicity of
3-chloro-1,2-propanediol in a 4 weeks gavage study on rats.
8.
Marchesini M, Stalder R & Perrin I (1989)
Subchronic toxicity of 3-chloro-1,2-propanediol, 90 days administration in
drinking water of Fischer F344 rats. Unpublished report No. 1264 from Nestec
Ltd Research Centre,
9. Silhankovà L, Smid F, Cernà M, Davidek J & Velisek J (1982) Mutagenicity of glycerol chlorohydrines and of their esters with higher fatty acids present in protein hydrolysate. Mutat. Res., 103, 77–81.
10.
Sunahara G, Perrin I & Marchesini M. (1993)
Carcinogenicity study on 3-monochloropropane-1,2-diol (3-MCPD) administered in
drinking water to Fischer 344 rats. Unpublished report No. RE-SR93003 submitted
to WHO by Nestec Ltd,
11. Zeiger E, Anderson B, Haworth S, Lawlor T & Mortelmans K (1988) Salmonella mutagenicity tests: IV. Results from the testing of 300 chemicals. Environ. Mol. Mutag., 11 (Suppl. 12), 1–158.
12. Witt KL, Livanos E, Kissling GE, Torous DK, Caspary W, Tice RR, Recio L. (2008) Comparison of flow cytometry- and microscopy-based methods for measuring micronucleated reticulocyte frequencies in rodents treated with nongenotoxic and genotoxic chemicals. Mutat Res. 649(1-2):101-13.