Nguyễn
Sơn Tùng[*], Nguyễn Ngọc Khôi*
Mở đầu: Việc t́m ra những
thuốc giải lo âu mới không có hoặc có ít tác dụng có hại là một nhu cầu rất bức
thiết hiện nay. Do đó,
việc khảo sát các mô h́nh có thể áp dụng nhằm
sàng lọc các thuốc chữa bệnh phong phú và an toàn từ
tự nhiên hay tổng hợp là hết sức cần thiết.
Mục tiêu: Khảo sát các mô
h́nh dược lư nhằm nghiên cứu tác dụng giải
lo âu, qua đó, khảo sát thăm ḍ tác dụng giải lo âu
của các công thức phối hợp từ những cao
dược liệu.
Phương pháp: Ba mô h́nh nghiên cứu
tác dụng giải lo âu được khảo sát bao gồm
mô h́nh môi trường
mở, mô h́nh chữ thập nâng cao và mô
h́nh ngăn sáng - tối. Chuột nhắt đực trắng, chủng Swiss
abino được
cho uống các phối hợp cao chiết CT1, CT2 và CT3 phối
hợp từ các cao chiết dược liệu là rau má, quế
và nhân sâm, có so sánh với diazepam 2 mg/kg.
Kết quả: Khi sử dụng
diazepam liều 2mg/kg (p.o.) thể hiện tác dụng tác dụng
giải lo âu trên chuột nhắt. Khi khảo sát tác dụng
của 3 công thức trên cả 3 mô h́nh dược lư thực
nghiệm môi trường mở, chữ thập nâng cao,
ngăn sáng-tối đều lặp lại kết quả 3 công
thức thử nghiệm không có tác dụng giải lo âu.
Kết luận: Đề tài
đă thành công trong việc chứng tỏ có thể áp dụng
ba mô h́nh trong điều kiện thực tế nhằm sàng
lọc các hoạt chất có tác dụng giải lo âu.
Từ khóa: mô h́nh giải lo âu, chuột nhắt, Swiss abino, rau má, quế,
nhân sâm
EVALUATING THE
APPLICABILITY OF ANXIETY MODELS
FOR SCREENING SOME
NATURAL PRODUCTS FORMULAE
Nguyen Son Tung, Nguyen Ngoc Khoi
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 -
Supplement of No 1 - 2010: 80 – 85
Background: The use of
animal models of anxiety has been fundamental in the search for new anxiolytic
compounds and for the understanding of the brain mechanisms underlying anxiety.
Objectives: To evaluate the
applicability of mouse models for screening anxiolytic compounds. In this
study, three formulae from Centella asiatica, Cinnamomum cassia and Panax
ginseng extracts were used as testers.
Method: Five-week-old
male Swiss albino mice were used. Three models in mice were investigated
including open field (OF), elevated plus-maze (EPM) and light dark (LD) test.
Compounds were administered at a rate of 0.1 ml/10 g and diazepam 2 mg/kg as a
positive control. All test were performed sixty minutes after receiving the
oral treatments.
Results: These above
mentioned formulae administered groups did not reveal any changes in
anxiety-like behaviours. However, diazepam 2 mg/kg administered group showed
displayed an increased number of entries and spent more time in the centre area
in OF, significantly increased in the percentage of open arm entries and the
time spent on the open arm in EPM, and spent more time in light box in LD test.
Conclusion: All together, we provide evidence that these models is sensitive and applicable, and diazepam 2 mg/kg is a good positive control for the screening of anxiolytic-like effects.
Key words: anxiolytic, mice, Swiss abino, Centella asiatica, Cinnamomum cassia, Panax ginseng
Bên cạnh việc nghiên cứu
các dược phẩm tổng hợp mới, con người
nhận ra nguồn thuốc chữa bệnh phong phú và an
toàn từ tự nhiên. Nhiều dược liệu (đa số
nghiên cứu trên cao toàn phần) đă được phát hiện
là có tác dụng giải lo âu trên các thử nghiệm dược
lư trên thú vật. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo
sát các mô h́nh dược lư nhằm nghiên cứu tác dụng
giải lo âu, qua đó, khảo sát thăm ḍ tác dụng giải lo âu của các công thức phối
hợp từ những cao dược liệu như rau má, quế và nhân sâm. Đây là các dược
liệu đă được chứng minh có tác dụng giải
lo âu (1, 2, 3) và nguồn dược liệu lớn,
dễ t́m với hy vọng có thể giảm liều sử
dụng so với khi sử dụng từng cao riêng lẻ
mà vẫn duy tŕ hiệu quả tác dụng giải lo âu, làm
tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo.
Ba dược liệu đă được lựa
chọn để nghiên cứu trong
đề tài này gồm có: rau má (Centella asiatica (L.) Urban), quế
(Cinnamomum cassia Blume) và nhân sâm
(Panax ginseng C.A. Meyer) được mua tại TP Hồ Chí
Minh. Các dược liệu đều được
lưu mẫu tại Ban nghiên cứu khoa học,
Khoa Dược, ĐH Y-Dược TP Hồ
Chí Minh.
Súc vật
nghiên cứu: Chuột nhắt đực trắng (chủng
Swiss abino, 5 – 6 tuần tuổi, khối lượng từ
20 – 25 g) được cung cấp bởi Viện Văcxin & Sinh phẩm Y tế Nha Trang. Chuột được nuôi ổn
định một tuần bằng thức ăn thường
trước khi tiến hành thử nghiệm.
Hóa chất: diazepam (Valium®), asiaticosid chuẩn
được cung cấp bởi Ban Nghiên Cứu Khoa Học,
Khoa Dược, ĐH Y-Dược TP HCM
Chiết xuất: Nguyên liệu được
sấy ở 50 OC trong 4 giờ, đem xay để
đạt kích thước 1 – 3 mm. Cam thảo được
chiết bằng nước bằng phương pháp đun hồi lưu (2 lần).
Nghệ được chiết bằng cồn 96O
theo phương pháp ngấm kiệt. Nhân sâm được
chiết lần lượt bằng phương pháp đun
hồi lưu với cồn 90 độ (3 lần) và cồn
45O (3 lần). Tỷ lệ dung môi: dược liệu
1: 10. Tất cả dịch chiết sau đó được
cô giảm áp đến khi được cao lỏng. Kết
quả chiết xuất được tính sau khi đă trừ
độ ẩm.
Cao rau má: Mẫu cao toàn phần được
cho vào cột Diaion HP-20, rửa giải lần lượt
bằng nước, metanol 50% và metanol. Lấy phân đoạn
metanol 50% và metanol, bay hơi dung môi để thu được
saponin toàn phần. Định lượng asiaticosid trong
saponin toàn phần từ cao rau má bằng phương pháp
HPLC. Các điều kiện tiến hành HPLC: Máy HPLC LC-10AD
(Shimadzu, Nhật). Cột Supelcosil LC18 (250 x 4,6 mm), kích thước
hạt 5 µm, kèm cột bảo vệ Supelguard (20 x 4,6 mm). Pha
động: acetonitril - metanol - nước (25: 20: 55). Tốc
độ ḍng: 0,7 ml/phút. Mẫu thử: cân chính xác khoảng
10 mg saponin toàn phần, ḥa tan trong 5 ml pha động, lọc
qua lọc 0,45 µm trước khi bơm vào máy HPLC. Thể
tích bơm: 10 µl. Dectector PDA, bước sóng phát hiện: 203
nm.
Cao quế: Tiến hành theo phương pháp định
lượng acid hữu cơ trong dược liệu, “Bài
giảng Dược liệu”, tập 1, ĐH Dược
Hà Nội. Cân 500 mg cao toàn phần, ḥa tan vào nước và lọc
qua giấy lọc vào b́nh định mức 100 ml, thêm
nước cho đủ 100 ml. Lấy 10 ml dịch nước
này cho qua cột nhựa cationit để loại các cation.
Dịch nước rửa giải được trung ḥa
bằng Ba(OH)2 0,01N. Qua lượng Ba(OH)2 tiêu thụ ta định lượng
được acid hữu cơ toàn phần trong cao quế.
Cao nhân sâm: Định lượng G-Rb1
và G-Rg1 trong saponin toàn phần từ cao nhân sâm bằng
phương pháp HPLC. Máy HPLC LC-10AD (Shimadzu, Nhật), cột
Supelcosil LC18 (250 x 4,6 mm), kích thước hạt 5 µm, kèm cột
bảo vệ Supelguard (20 x 4,6 mm), pha động: acetonitril –
nước (33: 67), tốc độ ḍng: 0,7 ml/ phút. Cân 6,63
mg saponin toàn phần, ḥa tan trong pha động, lọc qua lọc
0,45 µm trước khi bơm vào máy HPLC với thể tích bơm: 10 µl. Dectector
PDA, bước sóng phát hiện: 203 nm.
Các
quy tŕnh định lượng trên đă được thẩm
định về độ đúng và độ chính xác
(được xây dựng để định lượng
saponin sâm Triều Tiên và nghệ tại Ban NCKH – Khoa Dược).
Tác dụng giải lo âu của rau má, nhân
sâm, quế đă được chứng minh với các liều
có tác dụng như sau:
Rau má: liều asiaticosid 10 mg/kg
(p.o.) có tác dụng giải lo âu trên chuột nhắt thử
nghiệm trong mô h́nh chữ thập nâng cao(3).
Quế: cao toàn phần chiết bằng cồn
50% của quế có tác dụng giải lo âu trên chuột nhắt
ở liều 750 mg cao/kg (p.o.), trong mô h́nh dược lư thực
nghiệm chữ thập nâng cao(1).
Nhân sâm: liều 1200 mg bột nhân sâm/kg
(p.o.), 100 mg saponin toàn phần/kg (i.p.) và 5mg saponin G-Rb1/kg
(i.p.) đều có tác dụng giải lo âu trong thử nghiệm
chữ thập nâng cao ở chuột nhắt(2).
V́ mục đích thăm ḍ
có hay không tác động hiệp lực giữa các dược
liệu này, chúng tôi phối hợp chúng với liều thấp
hơn liều ở trên. Cụ thể, chúng tôi dùng rau má với
liều khoảng 3-5 mg asiaticosid/kg, tương
đương với khoảng 100-150 mg cao toàn phần/kg (hàm lượng
asiaticosid của mẫu cao toàn phần rau má trong đề
tài này là 3,23%). Liều asiaticosid 5 mg/kg đă được
chứng minh là không có tác dụng giải lo âu khi sử dụng
riêng lẻ (3). Bên cạnh đó, để đảm
bảo tính khả thi khi dùng cho người (liều dược
liệu sử dụng không thể quá lớn, phải ở
mức có thể chấp nhận được) chúng tôi hạn
chế tổng liều của các dược liệu ở
mức 200 mg cao/kg cân nặng chuột. V́ những lư do trên,
các công thức phối hợp được đưa ra
thử nghiệm trên chuột nhắt (tính trên kg cân nặng
của chuột) như sau:
Công thức 1:
Rau má: 150 mg cao khô/kg.
Quế: 50 mg cao khô/kg.
Công thức 2:
Rau má: 100 mg cao khô/kg.
Quế: 100 mg cao khô/kg.
Công thức 3:
Rau má: 150 mg cao khô/kg.
Quế: 25 mg cao khô/kg.
Nhân sâm: 25 mg cao khô/kg.
Tất cả chuột
được mă hóa bằng chữ và số để thuận
tiện cho việc phân tích kết quả sau này. Chuột
được chia ngẫu nhiên thành 5 nhóm:
·
Nhóm 1:
nhóm chứng, uống nước cất.
·
Nhóm 2:
nhóm đối chiếu, uống diazepam liều 2 mg/kg.
·
Nhóm 3:
nhóm thử, uống công thức 1.
·
Nhóm 4:
nhóm thử, uống công thức 2.
·
Nhóm 5:
nhóm thử, uống công thức 3.
Mô h́nh môi trường
mở (Open field
test): Bộ dụng cụ gồm 1 hộp kích thước
40 x 40 x 40 cm, với tường trong suốt, đáy hộp
được chia ra làm 16 ô vuông có kích thước bằng
nhau (10 x 10 cm). Sàn được chia làm vùng ŕa và vùng trung tâm
(kích thước 20 x 20 cm, nằm ở giữa). Cường
độ chiếu sáng ở sàn là 100 lux. Chuột thử
nghiệm được cho uống 60 phút trước khi
thử nghiệm. Tất cả chuột được
đặt cố định vào 1 góc của mô h́nh, thực
hiện thử nghiệm trong 5 phút, ghi nhận số ô vuông
chuột di chuyển vào, số lần đứng lên, thời
gian và số lần vào vùng trung tâm. Chuột được
tính là di chuyên 1 ô hoặc 1 lần vào vùng trung tâm khi cả 4
chân của chuột bước qua vạch phân cách.
Bộ dụng cụ gồm
2 cánh tay mở (30 cm x 5 cm) và 2 cánh tay đóng (30 cm x 5 cm) với
tường cao 25 cm, làm bằng plexiglas. Phần giao nhau giữa
các cánh tay là 1 h́nh vuông (5 cm x 5 cm). Cánh tay mở có gờ cao
0,25 cm bao quanh để ngăn chuột rơi xuống
đất. Bộ cánh tay được đặt cao
hơn nền nhà 73 cm, cường độ chiếu sáng ở
cánh tay mở là 20 lux. Chuột thử nghiệm được
cho uống 60 phút trước khi thử nghiệm. Tất cả
chuột được đặt ở vùng trung tâm, hướng
về phía cánh tay mở, sau đó chuột được tự
do di chuyển khám phá trong 5 phút, ghi nhận số lần ra
vào và thời gian lưu lại ở các vùng cánh tay (đóng
và/hoặc mở) của chuột. Chuột được
tính 1 lần vào cánh tay mở khi cả 4 chân của chuột
bước qua vạch phân cách giữa vùng trung tâm và cánh tay
mở.
Bộ dụng
cụ gồm 1 hộp làm bằng plexiglas, có 2 ngăn, mỗi
ngăn có kích thước 40 x 20 cm. Trong đó 1 ngăn
được chiếu sáng với cường độ
400 lux, gọi là ngăn sáng. Ngăn c̣n lại được
sơn đen để giữ tối với cường
độ ánh sáng không quá 5 lux, gọi là ngăn tối. Hai
ngăn này thông với nhau bằng một cửa có kích
thước 8 x 8 cm. Chuột thử nghiệm được
cho uống 60 phút trước khi tiến hành thử nghiệm.
Chuột được đặt ở cửa ngăn
cách vùng sáng, tối, hướng ra ngăn sáng. Sau đó chuột
được tự do khám phá trong 5 phút, được
ghi lại bằng một camera gắn bên trên. Ghi nhận lại
số lần ra vùng sáng của chuột và thời gian ở
vùng sáng. Chuột được tính là ra vùng sáng khi cả 4
chân vượt qua lằn phân cách giữa 2 vùng.
Các dữ liệu được biểu
thị dưới dạng Mean±SEM. Qua phân tích các số liệu
bằng phép kiểm Kolmogorov-Smirnov cho thấy có sự phân bố
không b́nh thường ở một số dăy số liệu.
Do đó việc xử lư thống kê sử dụng phần
mềm SPSS phiên bản 16, sử dụng phép kiểm
Kruskal-Wallis, tiếp theo dùng phép kiểm Mann-Whitney-U test để
so sánh sự khác biệt giữa các lô. Sự khác nhau
được xem là có ư nghĩa khi giá trị p<0,05.
Bảng 1. Kết quả chiết xuất cao toàn phần
|
Dược liệu |
Khối lượng dược liệu (kg) |
Khối lượng cao (g) |
Hiệu suất chiết (%) |
|
Rau má |
2,0 |
420 |
21 |
|
Quế |
1,6 |
150 |
9,4 |
|
Nhân sâm |
0,4 |
180 |
45 |

H́nh
1. Sắc đồ HPLC khi phân tích rau má
(A) và nhân sâm (B). As: asiaticosid, G-Rb1: ginsenosid Rg1,
G-Rg1: ginsenosid Rg1
·
Cao rau má: hàm lượng asiaticosid trong cao toàn
phần rau má là 3,23%.
·
Cao quế: hàm lượng các acid hữu cơ trong
cao quế là 1,6 mN/1g cao toàn phần.
·
Cao nhân sâm: Hàm lượng G-Rb1 và G-Rg1
lần lượt là 1,73 % và 1,04%.


H́nh
2. Ảnh hưởng của của
CT 1, CT 2, CT 3 và diazepam trên số ô di chuyển và số lần
đứng lên trong thử nghiệm mô h́nh môi trường
mở. n thể hiện số chuột trong mỗi nhóm.



H́nh 3. Ảnh hưởng trên tổng số
lần vào các nhánh (đóng và mở), số lần vào nhánh
đóng, số lần vào nhánh mở và thời gian ở
nhánh mở của diazepam và các công thức 1, 2, 3 trong thử
nghiệm chữ thập nâng cao. * p<0,05, ** p<0,01 so với
nhóm chứng (nhóm 1)

H́nh 2. Ảnh hưởng trên số lần
và thời gian ra ngăn sáng của diazepam và
các công thức 1, 2, 3 trong thử nghiệm ngăn sáng-tối, *p < 0,05 so với nhóm chứng (nhóm 1)
Nghiên cứu đă tiến hành
khảo sát lại mô ba mô h́nh trên dược lư thực nghiệm
thông dụng trong các thử nghiệm về tác động
giải lo âu trên chuột nhắt. Khi sử dụng diazepam
liều 2mg/kg (p.o.) thể hiện tác dụng tác dụng giải
lo âu trên chuột nhắt, điều đó chứng tỏ
có thể áp dụng các mô h́nh này trong điều kiện thực
tế nhằm sàng lọc các hoạt chất có tác dụng
giải lo âu.
Khi khảo sát tác dụng của 3 công thức CT1, CT2 và CT3 trên cả 3 mô h́nh dược lư thực nghiệm môi trường mở, chữ thập nâng cao, ngăn sáng-tối đều lặp lại kết quả 3 công thức thử nghiệm không có tác dụng giải lo âu. Trong các công thức phối hợp 1, 2, 3, liều của cao rau má, quế, nhân sâm đều nhỏ hơn liều có tác dụng đă được công bố. Cụ thể ở đây liều của rau má tương đương 4,8 mg asiaticosid/kg ở công thức 1, 3 và 3,2 mg asiaticosid/kg ở công thức 2; liều của nhân sâm tương đương 0,43 mg G-Rb1/kg; liều của quế là 100 mg cao/kg ở công thức 2 hoặc 50 mg cao/kg ở công thức 1 hoặc 25 mg cao/kg ở công thức 3. Do liều của từng dược liệu nhỏ hơn liều có tác dụng đă công bố, chưa kể đến việc có thể có các tương tác làm giảm hoạt tính lẫn nhau của các hoạt chất trong các cao chiết, nên các công thức phối hợp trên không thể hiện được tác dụng giải lo âu. Từ kết quả này có thể rút ra kết luận sơ bộ là các hoạt chất giải lo âu trong các dược liệu này không có tác dụng hiệp lực tăng khả năng giải lo âu.
1. Hyun-Sook Yu et al., “Involvement of 5-HT1A and GABAA receptors in the anxiolytic-like effects of Cinnamomum cassia in mice”, Pharmacology, Biochemistry anh Behavior, 87, 164-170 (2007).
2. Mellisa N. Carr et al., “Identification of anxiolytic ingredients in ginseng root using the elevated plus-maze test in mice”, European Journal of Pharmacology, 531, 160-165 (2006).
3. Si Wen Chen et al., “Anxiolytic-like effect of asiaticoside in mice”. Pharmacology, Biochemistry and Behavior, 85, 339-344 (2006).