Nhữ Thị Hoa*,
Hồ Quốc Cường*, Nguyễn Trương
Tường Duy*
TÓM TẮT
Mở đầu: Nhiễm Enterobius vermicularis liên
quan chủ yếu đến vệ sinh cá nhân và môi trường
sinh hoạt chung quanh bệnh nhân. Trong t́nh h́nh kinh tế, xă
hội phát triển vượt trội, cũng như ư thức xổ giun định kỳ của người
dân ngày càng được nâng cao, bệnh giun kim đă
được kiểm soát đến mức độ nào
nhất là ở các huyên ngoại thành TP. HCM ? Đo lường
tỷ lệ hiện mắc của bệnh sẽ cung cấp
thông tin cho chương tŕnh pḥng chống giun sán hiên nay.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ nhiễm
giun kim trên trẻ mẫu giáo tại huyện Củ Chi, TP.
HCM từ 09/2008
đến 05/2009.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả
được tiến hành trên 1677 trẻ học tại 4
trường được chọn ngẫu nhiên từ 28
trường mẫu giáo thuộc huyện Củ Chi năm
học 2008 – 2009. Kỹ thuật Graham (1 lần) được
dùng để chẩn đoán nhiễm giun kim.
Kết quả: 30,7% trẻ nhiễm
giun kim. Nhóm lớp lá nhiễm nhiều hơn nhóm chồi
(OR = 1,4 [1,12 – 1,77], p < 0,01). Trẻ học ở điểm
chính nhiễm ít hơn điểm lẻ (OR= 0,67 [0,53 – 0,83],
p< 0,01). Nhóm có phụ huynh lao động trí óc, học >
cấp 2 và ≥ 30 tuổi nhiễm ít hơn các nhóm c̣n lại
với OR lần lượt là 0,5; 0,55; 0,75 (p < 0,01).
Kết luận và đề xuất: Bên cạnh xổ giun định
kỳ, cần thực hiện các biện pháp vệ sinh
đặc hiệu liên quan đến pḥng ngừa nhiễm
giun kim. Tiến hành khảo sát KAP của phụ huynh và cô
giáo về nhiễm giun kim nhằm làm cơ sở cho công tác
GDSK.
Từ khóa: Enterobius vermicularis, giun kim, nhiễm
giun kim, kỹ thuật Graham.
ABSTRACT
PREVALENCE OF ENTEROBIASIS AMONG KINDERGARTEN CHILDREN
IN CU CHI DISTRICT, HO
Nhu Thi Hoa, Ho Quoc Cuong, Nguyen Truong
Tuong Duy
* Y Hoc TP.Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1- 2010: 133 - 138
Background: Pinworm infestation mainly relates to personal hygiene and the surrounding environment of the patients. To what extent enterobiasis was controlled in the context of socio-economic development and the practice of periodic deworming? Prevalence rate will determine the helminthiasis control.
Objectives: To determine the prevalence of
enterobiasis among kindergarten children in Cu Chi district,
Methods:
A cross sectional study was conducted in 4 nursery schools selected randomly
among 28 kindergartens in Cu Chi district in the academic year 2008 – 2009. One
thousand six hundred and seventy seven children were checked for enterobiasis
by Graham’s technique.
Results: Thirty point seven percents of children were positive with Enterobius vermcularis. The positivity rate was higher in the five year-old group than the rest (OR = 1.4, p < 0.01). Prevalence in the main establishment was lower than in the branches (OR= 0.67 [0.53 – 0.83], p< 0.01). Infestation rate was higher among children from parents who are white-collar workers, over 30 year-old and with education higher than the second grade [OR = 0.5, 0.75, 0.55, respectively, (p < 0.01]).
Conclusions and recommendations: Enterobiasis prevention must be done with periodic mass deworming and personal hygiene measures. Schoolparent’s KAP survey will provide necessary information to guide health education.
Key words: Enterobius vermicularis, pinworm
infestation, enterobiasis, Graham technique.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở các nước đang phát triển, với nền kinh tế chưa vững chắc, vệ sinh môi trường thấp và ư thức vệ sinh của người dân chưa cao, nhiễm kư sinh trùng đường ruột là một trong những vấn đề khá phổ biến, trong đó nhiễm giun kim vẫn chiếm tỉ lệ không nhỏ. Theo đánh giá năm 1994, khoảng 1 tỉ người trên thế giới dương tính với phết Graham (2), trẻ em là đối tượng chủ yếu, đặc biệt những trẻ sống trong môi trường tập trung đông đúc như nhà trẻ, lớp mẫu giáo,... Năm 2004, y văn ước tính hơn 30% trẻ bị nhiễm giun kim (3). Các điều tra năm 2006 tại một số vùng thuộc Hoa Kỳ và Canada đă phát hiện tỷ lệ hiện mắc ở trẻ em thay đồi từ 30% đến 80% (7). Ở Việt Nam, các khảo sát trước năm 2007 tại khu vực miền Bắc và miền Trung cũng ghi nhận con số tương tự, 18,5 – 47%, có vùng lên đến 73,45% (4,5,6, 8,9,10,13,15) và cũng tập trung ở tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Tại miền Nam, các huyện Củ Chi là một huyện ngoại thành TP. HCM, đang ngày càng được công nghiệp hóa, có điều kiện tiếp cận nhiều thông tin về sức khỏe và chương tŕnh xổ giun định kỳ cũng được triển khai từ nhiều năm qua. Thiết nghĩ bệnh giun kim đă được kiểm soát đáng kể. Tuy nhiên, trong quá tŕnh xét nghiệm phân tầm soát nhiễm giun móc cho học sinh cấp I, Bộ môn Kư Sinh – Vi Nấm Học đă t́nh cờ phát hiện nhiều mẫu nhiễm giun kim (2,89%, số liệu không công bố). Điều cần nhấn mạnh là : i) xét nghiệm phân không phải là kỹ thuật đặc hiệu để chẩn đoán nhiễm Enterobius vermicularis; ii) học sinh cấp I không phải là đối tượng chủ yếu của bệnh; iii) bệnh do tác nhân này mang tính tập thể. Như vậy “phải chăng tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ mẫu giáo huyện Củ Chi vẫn chưa được kiểm soát ?” Từ đó nghiên cứu “xác định tỷ lệ nhiễm giun kim trên trẻ học mẫu giáo huyện Củ Chi” được thực hiện, góp phần cung cấp thông tin cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp can thiệp hợp lư, hiệu quả giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất lẫn trí tuệ.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ tháng 9/2008 đến tháng 05/2009 trên trẻ 3-6 tuổi học tại 4 trường mẫu giáo công lập thuộc 4 xă An Nhơn Tây, Phước Thạnh, Tân An Hội và Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, TP. HCM. Các trường được chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm 1 bậc (cụm = trường) bằng cách rút thăm ngẫu nhiên từ 28 trường trong huyện. Áp dụng công thức tính cỡ mẫu để ước lượng một tỉ lệ trong dân số dựa trên P tham khảo = 22,75% (6) và để giảm hiệu ứng cụm nên cỡ mẫu tối thiểu là ≥ 542 trẻ. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ được thu thập qua bảng câu hỏi phát cho phụ huynh tự điền. Kỹ thuật Graham được tiến hành 1 lần để chẩn đoán nhiễm giun kim. Đo lường tỉ lệ nhiễm giun kim và dùng phép kiểm định χ2, OR để phân tích sự phân bố tỉ lệ bệnh theo các thuộc tính của trẻ.
KẾT QUẢ
Bảng
1: Đặc
điểm chung của mẫu nghiên cứu
|
Đặc điểm |
n = 1677 Tần số (%) |
|
|
Phân
hiệu |
Điểm
chính |
1093
(65,2) |
|
Điểm
lẻ |
584 (34,8) |
|
|
Phân
lớp |
Lá |
1091
(65,1) |
|
Mầm
- chồi |
586 (34,9) |
|
|
Giới |
|
841
(50,2) |
|
Nữ |
836
(49,8) |
|
|
NND |
Mẹ |
1414
(84,3) |
|
Khác |
263 (15,7) |
|
|
Dân
tộc |
Kinh |
1673
(99,8) |
|
Khác |
4
(0,2) |
|
|
Nghề NND |
Trí
óc |
100 (6,0) |
|
Chân
tay |
1577
(94,0) |
|
|
Học
vấn NND |
>
cấp 2 |
395 (23,5) |
|
≤
cấp 2 |
1282
(76,6) |
|
|
Tuổi NND |
≥
30 |
1015
(60,5) |
|
<30 |
662 (39,5) |
|
Khoảng 2/3 trẻ học lớp lá, tập trung ở điểm chính. Trẻ nam và nữ tương đồng nhau. Đa số người nuôi dưỡng (NND) là mẹ, thuộc dân tộc kinh, từ 30 tuổi trở lên, làm nghề lao động chân tay và có tŕnh độ học vấn ≤ cấp 2.
Bảng
2: Tỷ lệ nhiễm phân bố theo các thuộc tính
của mẫu nghiên cứu
|
Đặc điểm |
n=1677 Tần số (%) |
p (χ2) |
OR [KTC 95%] |
|
|
Nhiễm |
Không |
|||
|
Phân
hiệu |
|
|
|
|
|
Chính |
302
(27,6) |
791
(72,4) |
<0,01 |
0,67 [0,53
- 0,83] |
|
Lẻ |
213
(36,5) |
371
(63,5) |
||
|
Phân
lớp |
|
|
|
|
|
Lá |
362
(33,2) |
729
(66,8) |
<0,01 |
1,40 [1,12
- 1,77] |
|
Chồi |
153
(26,1) |
433
(73,9) |
||
|
Giới |
|
|
|
|
|
|
244
(29,0) |
597
(71,0) |
0,13 |
|
|
Nữ |
271
(32,4) |
565
(67,6) |
||
|
NND |
|
|
|
|
|
Mẹ |
434
(30,7) |
980
(69,3) |
0,97 |
|
|
Khác |
81
(30,8) |
182
(69,2) |
||
|
Nghề
NND |
|
|
|
|
|
Trí
óc |
19
(19,0) |
81
(81,0) |
<0,01 |
0,50 [0,29
- 0,86] |
|
Chân
tay |
496
(31,4) |
1081
(69) |
||
|
Học
vấn NND |
|
|
|
|
|
>
cấp 2 |
86
(21,8) |
309
(78,2) |
<0,01 |
0,55 [0,42
- 0,73] |
|
≤
cấp 2 |
429
(33,5) |
853
(66,5) |
||
|
Tuổi
NND |
|
|
|
|
|
≥
30 |
287
(28,3) |
728
(71,7) |
<0,01 |
0,75 [0,60
- 0,93] |
|
<
30 |
228
(34,4) |
434
(65,6) |
||
Tỷ lệ nhiễm giun kim của mẫu
nghiên cứu
là 30,7%
Nhóm trẻ học ở phân hiệu chính nhiễm ít hơn 0,67 lần nhóm học ở phân hiệu lẻ; trẻ có NND học > cấp 2, ≥ 30 tuổi nhiễm ít hơn các nhóm c̣n lại lần lượt là 0,55 và 0,75 lần. Nhóm lớp lá nhiễm nhiều hơn lớp mầm chồi 1,40 lần.
BÀN LUẬN
Về đặc điểm chung của trẻ, bảng 1 mô tả mẫu nghiên cứu bao gồm 50,2% nam, 65,1% trẻ học lớp lá (5-6 tuổi), tương đồng với số liệu thống kê năm 2008-2009 của Pḥng Giáo Dục huyện Củ Chi về giới tính nhưng khác biệt về nhóm tuổi. Bệnh giun kim lây lan mạnh giữa các trẻ sinh hoạt chung với nhau trong cùng môi trường nên việc phân tích dựa trên phân lớp sẽ phù hợp hơn theo nhóm tuổi. Mặt khác, tại các phân hiệu lẻ, do khó khăn về cơ sở vật chất, nhân sự và phương tiện đi lại của phụ huynh nên các trẻ 3, 4 tuổi vẫn được xếp vào học chung với lớp lá. Như vậy, thực tế số trẻ học lớp lá (được cho là lớp 5-6 tuổi) trong mẫu nghiên cứu cao hơn thống kê chính xác theo tuổi của Pḥng Giáo Dục và do đó, sẽ ảnh hưởng phần nào đến tính đại diện của tỉ lệ bệnh đối với trẻ 5-6 tuổi của huyện. Trẻ học ở các cơ sở chính chiếm 65,2% cao hơn nhiều so với phân hiệu lẻ 34,8%. Điều này sẽ góp phần làm cho tỷ lệ nhiễm ở các phân hiệu cao hơn v́ cơ sở vật chất, vấn đề vệ sinh ở điểm lẻ thường kém hơn, tạo thuận lợi cho mầm bệnh tồn tại và lan truyền giữa các bé.
Xét về tỷ lệ nhiễm, bảng 2 cho
thấy số trẻ dương tính với giun kim chiếm
30,7%, thấp hơn 40,4% của Norhayati (1994,
Phân tích sự phân bố tỷ lệ nhiễm theo các thuộc tính của mẫu nghiên cứu, bảng 3 thể hiện sự khác biệt có ư nghĩa thống kê về phân hiệu, phân lớp của trẻ, nghề nghiệp, học vấn và độ tuổi của người nuôi dưỡng. Trẻ học tại phân hiệu chính dương tính thấp hơn nhóm học tại phân hiệu lẻ 0,67[0,53 – 0,83] lần (p < 0,01). Điểm chính thường tọa lạc ở trung tâm xă, nơi tập trung tầng lớp dân cư khá giả, được Ban Giám Hiệu giám sát thường xuyên v́ vậy trẻ nhận được sự quan tâm chăm sóc từ nhà trường và phụ huynh nhiều hơn. Trong khi ở các điểm lẻ, chỉ một giáo viên phụ trách một lớp, đôi khi 40 trẻ/lớp, vừa dạy học vừa lau dọn lớp, bàn ghế, đồ chơi cho trẻ,... nên khó hoàn thành tốt mọi việc. Hơn nữa, cơ sở vật chất thiếu thốn (đặc biệt nhà vệ sinh không đạt chuẩn, dùng nước giếng), không cho phép tuân thủ các biện pháp vệ sinh như lau nhà mỗi ngày, rửa dụng cụ dạy học, đồ chơi hàng tuần … Cũng cùng quan điểm, Nguyễn Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Hường kết luận chế độ chăm sóc tốt đă góp phần làm giảm tỷ lệ bệnh ở các trường tư thục so với các trường công lập (8), các trường nội thành so với nông thôn (9). Tuy nhiên, Giang Thùy Dương ghi nhận số trẻ nhiễm giun kim ở các trường mẫu giáo thành thị cao hơn các trường nông thôn (4) và giải thích t́nh trạng tập trung đông đúc sẽ tạo điều kiện phát tán, lây nhiễm mầm bệnh nếu không đảm bảo các yêu cầu vệ sinh. Tương tự, Nguyễn Văn Dũng & cs. nhận thấy trẻ học tại các trường mẫu giáo nhiễm cao hơn trẻ ở nhà (p < 0,01) (10), v́ lớp học tập trung nhiều trẻ sẽ tập trung nhiều nguồn nhiễm, mật độ ô nhiễm trứng giun kim trong môi trường đậm đặc hơn, cùng với thói quen ngồi lê dưới sàn lớp, chơi chung đồ chơi, nên dễ dàng lây truyền qua lại lẫn nhau. Các nhận định trên, thoạt nghe, có vẻ mâu thuẫn nhưng thật sự đều quy tụ vào một điểm là phải giải quyết nguồn nhiễm trong môi trường sinh hoạt tập thể của trẻ !
Bảng 2 mô tả sự khác biệt giữa
nhóm lớp lá và nhóm mầm-chồi với OR= 1,4 [1,12 – 1,77]
(p < 0,01) tương tự kết quả của Seokha
KANG, Trần Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Hường,
Lương Thúy Vân (7,9,14,15),. Tại các vùng nông thôn, trẻ
thường ở nhà và sẽ bắt đầu đi học
lúc 3 tuổi nên số trường hợp bệnh trong nhóm
lớp mầm chưa nhiều, nhưng mầm bệnh sẽ
được tích lũy dần trong lớp và lây lan, số
trẻ mới mắc tăng dần lên và đạt tối
đa ở lớp lá nếu vệ sinh lớp học không
được thực hiện đúng cách. Một số
tác giả như
Giới tính chưa thể hiện tác động lên tỷ lệ nhiễm trong bảng 2 (p = 0,13), phù hợp với ư kiến của Cazorla D. ở Veneuzuela (1), Phan Thị Hương Liên (13) và Lại Quang Sáng (5). Ngược lại, Seokha KANG(14), Jea-Hwan PARK (12), Nguyễn Ngọc Huyền (8) và Giang Thùy Dương (4) nhận định trẻ nam nhiễm cao hơn trẻ nữ do bản chất hiếu động, đụng chạm vào nhiều đồ vật hơn, đồng thời ít được chăm sóc và ư thức giữ ǵn vệ sinh thấp hơn trẻ nữ. Có lẽ do những yếu tố này không hằng định ở tất cả các cộng đồng nên các kết quả cũng không đồng nhất.
Tŕnh độ học vấn của NND được t́m thấy liên quan với tỷ lệ nhiễm (OR = 0,55 [0,42 – 0,73], p <0,01), tương tự nhiều báo cáo trong nước (6, 8,15) nhưng khác với Nguyễn Thị Hường : không phát hiện khác biệt có ư nghĩa thống kê (9) và trái ngược với Giang Thùy Dương : trẻ thuộc nhóm mẹ học ≤ cấp 2 nhiễm nhiều hơn trẻ thuộc nhóm mẹ học < cấp 2 (4). Tŕnh độ học vấn chỉ là nền tảng để tiếp cận và nắm bắt các thông tin về sức khỏe, qua đó có thể thay đổi thái độ, hành vi theo hướng tích cực. Nếu học vấn cao nhưng không t́m hiểu thông tin chính xác th́ kiến thức về pḥng ngừa bệnh tật nói chung, nhiễm giun kim nói riêng cũng không khác biệt với người có tŕnh độ học vấn thấp.
Nh́n chung, mẹ quan tâm, chăm sóc trẻ chu
đáo hơn các thành viên khác nhưng kết quả phân tích
cho thấy số tiêu bản Graham dương tính
tương đồng nhau giữa hai nhóm trẻ được
nuôi dưỡng bởi mẹ và người khác (p = 0,97).
Nói cách khác, sự chăm sóc của mẹ dù chu đáo
hơn nhưng liệu có phù hợp với việc pḥng
tránh nhiễm giun kim, nghĩa là mẹ có hiểu biết
đúng về bệnh giun kim nhiều hơn người khác
chăm sóc bé không ? Ngoài ra, học càng cao, càng tạo điều
kiện cho NND tiếp thu dễ dàng các thông tin liên quan đến
sức khỏe, qua đó thực hành pḥng ngừa bệnh tốt
hơn. Trong khi đó, tŕnh độ học vấn £ cấp
2 chiếm ưu thế trong mẫu khảo sát, ở cả
2 nhóm: người chăm sóc là mẹ cũng như là
người khác. Phải chăng các yếu tố này đă
góp phần đưa đến kết quả trên?
Lương Thúy Vân cũng ghi nhận tương tự và gợi
ư vai tṛ lây nhiễm giữa NND với trẻ (6). Đây cũng là một khía cạnh
của vấn đề nhiễm giun kim v́ theo tập tục
ở các gia đ́nh Việt
Về tuổi, NND ≥ 30, với những kinh nghiệm tích lũy theo tuổi đời, việc chăm sóc con cái sẽ tốt hơn nhóm < 30. Có lẽ nhờ đó, giảm được t́nh h́nh bệnh tật của trẻ, bao gồm bệnh giun kim (OR = 0,75, p<0,01, bảng 2).
Nghề nghiệp phần nào phản ánh tŕnh
độ học vấn và điều kiện kinh tế,
qua đó ảnh hưởng nhất định đến
t́nh trạng nhiễm giun kim, v́ thế, nếu phụ huynh
lao động trí óc, khả năng trẻ dương tính
sẽ thấp hơn nhóm lao động chân tay (OR = 0,5 [0,29
– 0,86], p < 0,01) (bảng 2). Số liệu của
Lương Thúy Vân cũng cho thấy sự liên hệ mạnh
mẽ giữa nhiễm giun và nghề của người
chăm sóc(6). Ngoài ra, thời gian dành cho việc
chăm sóc trẻ trong ngày bị chi phối phần nào bởi
công việc của NND. Những ngành nghề đ̣i hỏi
tuân thủ thời gian một cách nghiêm túc như công nhân sẽ
bị hạn chế về thời gian, nhất là buổi
sáng, do vậy việc vệ sinh kỹ vùng hạ bộ mỗi
sáng sớm cho trẻ đôi khi khó thực hiện thường
xuyên dẫn đến số trường hợp nhiễm
cao hơn như trong điều tra của Giang
Thùy Dương(4).
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ
XUẤT
Tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ học tại các trường mẫu giáo huyện Củ Chi vẫn c̣n cao so với t́nh h́nh phát triển kinh tế hiện nay tại TP. HCM (30,7%). Bệnh tập trung ở nhóm trẻ học tại các điểm lẻ, nơi có t́nh trạng vệ sinh kém, và nhóm trẻ học lớp lá, đối tượng đă tích lũy mầm bệnh từ lớp mầm, chồi.
Do đó, vấn đề vệ sinh cho trẻ mỗi sáng sớm cũng như vệ sinh lớp học, đặc biệt ở phân hiệu lẻ, cần được thực hiện đúng cách, phù hợp với việc pḥng tránh nhiễm giun kim. Trước tiên, bên cạnh chương tŕnh xổ giun định kỳ cho trẻ mẫu giáo, việc khảo sát KAP của phụ huynh và cô giáo về nhiễm giun kim cần được thực hiện để làm cơ sở cho công tác truyền thông GDSK.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Cazorla
D., Acosta M., Garcia E. et al (2002). Enterobius vermicularis
infection in preschool and schoolchildren of six rural communities from a
semiarid region of
5.
Lại Quang Sáng, Hoàng Thị Ḥa &
Nguyễn Thị Thu Huyền. (2004). T́nh h́nh nhiễm giun kim
của trẻ em lứa tuổi nhà trẻ - Mẫu giáo
tại trường mầm non số 2 thành phố
7.
11.
Norhayati
M, Hayati MI, Oothuman P et al. (1994). Enterobius vermicularis
infection among children aged 1-8 years in a rural area in
12.
Park J. H., Han E. T., Kim W. H., Shin E. H.,
Guk S. M., Kim J. L., et al. (2000). A survey of Enterobius vermicularis
infection among children on western and southern coastal islands of the
14.
Seokha KANG, Hyeong Kyu JEON,
*Bộ môn Kí sinh trùng – Vi nấm
học, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Tp.Hồ Chí Minh
Đại chỉ liên hệ:
Nhữ Thị Hoa ĐT: 0903379566 Email:drnhuhoa@yahoo.com