Nguyễn
Minh Hùng *,
Nguyễn Thị Huỳnh Mai *, Lê Trường Giang
*
TÓM TẮT
Mục
tiêu: Xác định t́nh h́nh vệ sinh an toàn thực phẩm
ở các bếp ăn tập thể trong công ty, xí nghiệp
tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 và các yếu tố
liên quan nhằm đề ra các giải pháp ngăn ngừa
ngộ độc
thực phẩm.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành ở 258 bếp ăn tập thể của công ty, xí nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4/2007 – 8/2007.
Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy có 89% bếp ăn tập thể không đảm bảo về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, 2% bếp ăn tập thể sử dụng rau, củ, quả không an toàn về hóa chất bảo vệ thực vật, 4% bếp ăn tập thể sử dụng nguyên liệu thịt, chả, cá có chứa hàn the. 95% người phụ trách bếp chưa có kiến thức đúng về vệ sinh an toàn thực phẩm. 88% bếp ăn tập thể có nhân viên chưa thực hành đúng về vệ sinh an toàn thực phẩm. Ở những bếp ăn tập thể đảm bảo đủ về điều kiện vệ sinh th́ có tỷ lệ nhân viên thực hành đúng cao hơn (5,5 lần) và bếp ăn tập thể có nhân viên đă tham gia tập huấn đầy đủ th́ có tỷ lệ nhân viên thực hành đúng về vệ sinh an toàn thực phẩm cao hơn (4,6 lần).
Bàn luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy tính cấp thiết của công tác tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm và vai tṛ quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh, xử lư kịp thời các vi phạm nhằm góp phần đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong bếp ăn tập thể.
Từ khóa: An toàn vệ sinh thực phẩm, ngộ độc thực phẩm, bếp ăn tập thể
ABSTRACT
FOOD SAFETY STATUS OF PUBLIC KITCHEN IN
COMPANY,
Nguyen Minh Hung, Nguyen Thi Huynh Mai,
Le Truong Giang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 88 - 94
Objecctives: To
identify food safety status of public kitchen in company, enterprise at Ho Chi
Minh city, in 2007 and relative factors for setting solution to prevent food
poisoning.
Method: A
cross-sectional study was carried out with 258 public kitchen in company,
enterprise at
Result: The result
showed that 89% the public kitchen unsafe of hygiene condition, 2% the public
kitchen with material raws such as vegetables having pesticide, 4% the public
kitchen with material raws having borax such as meat row, fish. 95% chief of
kitchen hadn’t right knowledge of food safety. 88% the public kitchen with
their staff hadn’t proper practice of food safety. It is a sinificiant relation
of hygiene condition and practice, with a higher propotion of proper practice
found among the ones having safe of hygiene condition (5.5), and relation of
training and practice, with a higher propotion of proper practice found among
the ones having training food
safety (4.6).
Conclusion: The result
from this survey showed that training food safety safe of hygiene condition are
necessary, and the important role of inspector, timely correction, treatment
all breaking the Law to ensure food safety in public kitchen.
Keywords: Food
safety, food poisoning, public kitchen.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay nhu
cầu sử dụng thực phẩm được chế
biến tại bếp ăn tập thể rất lớn bởi tính tiện ích của
nó đối với người tiêu dùng. Đây là loại h́nh dịch vụ ăn uống phổ biến tập
trung tại khu vực đông công nhân như trong công ty, xí
nghiệp. Việc tiêu
thụ thực phẩm không an toàn chính là mối tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc thực phẩm
và bệnh truyền qua thực phẩm cho cộng đồng.
Tại thành phố
Hồ Chí Minh, t́nh h́nh ngộ độc thực phẩm hiện
đang có chiều hướng gia tăng cả về số người
mắc lẫn số người tử vong. Số vụ
ngộ độc thực phẩm ≥30 người mắc tại các bếp
ăn tập thể
(BATT), đặc biệt các bếp phục vụ trong các
công ty, xí nghiệp gia tăng rơ rệt từ tỷ lệ 22% trên tổng số vụ
năm 2001 lên 50% trên tổng
số vụ năm 2006. Mặc dù thành phố Hồ Chí Minh đă không ngừng
tăng cường và cải
tiến công tác quản lư, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm
(VSATTP), xác định vệ sinh an toàn thực phẩm là một
trong những vấn đề quan trọng cần
được quan tâm, tuy nhiên việc giám sát an toàn vệ
sinh thực phẩm đối với nhóm có nguy cơ cao như BATT thuộc công ty, xí nghiệp v́
nhiều lư do, vẫn c̣n hạn chế, mặc dù trong những
năm gần đây ngộ
độc thực phẩm xảy ra thường xuyên
hơn trên nhóm đối
tượng này. V́ vậy, việc xác định thực
trạng VSATTP tại các BATT của công ty, xí nghiệp trên
địa bàn thành phố trong
giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết, giúp cho
các cơ quan chức năng có thêm cơ sở
khoa học để đưa ra những quyết định can thiệp kịp thời
và hiệu quả.
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là một
nghiên cứu cắt ngang mô tả với quần thể đích là tất cả
các BATT của công ty, xí nghiệp đang có tổ chức nấu
ăn cho công nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Quần thể chọn
mẫu bao gồm 463 BATT thuộc công ty, xí nghiệp có tổ
chức nấu ăn do 24 Quận/Huyện trên địa bàn thành
phố thống kê và quản lư năm 2006. Chưa có báo cáo chính
thức về tỉ
lệ BATT thành phố Hồ Chí Minh không đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm nên để có 95% tin
tưởng xác định 50% BATT của công ty xí nghiệp
không đảm bảo an toàn vệ sinh, với sai số
cho phép 6%, cỡ mẫu được ước lượng
là 267. Mẫu được chọn theo kỹ thuật ngẫu
nhiên đơn theo danh sách thống kê từ 24 Quận/Huyện. Tiêu chí đưa vào là tất cả các BATT do chính công
ty tự tổ chức nấu tại công ty/xí nghiệp hay
BATT do công ty/xí nghiệp hợp đồng với cơ sở bên ngoài vào nấu tại
công ty, xí nghiệp; BATT thuộc tiêu chí nêu trên phải
đang hoạt động. Người phụ trách bếp
hiện c̣n đang làm việc tại cơ sở khảo sát, có khả
năng trả lời phỏng
vấn.
Dữ kiện
được thu thập bằng cách quan sát về điều
kiện vệ sinh và thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm
tại cơ sở,
lấy mẫu kiểm nghiệm nhanh tại cơ sở về hàn the trên nguyên liệu
thịt, cá, chả,…, lấy mẫu gửi xét nghiệm
dư lượng hóa chất
bảo vệ thực phẩm trên nguyên liệu rau, củ,
quả nguyên liệu, xét nghiệm vi sinh trên thực phẩm
đă chế biến. Phỏng vấn trực tiếp
người phụ trách bếp về kiến thức
VSATTP. Những biến số nghiên cứu bao gồm các biến
số về điều kiện VSATTP của BATT (về vệ
sinh cơ sở,
vệ sinh dụng cụ, vệ sinh chế biến - bảo
quản thực phẩm và vệ sinh nhân viên), thực hành
VSATTP (về chọn nguyên liệu, rửa rau, sử dụng
dụng cụ khi chia thức ăn, bàn tay sạch, mặc đồng phục),
hàn the, dư lượng
hóa chất bảo vệ thực vật, kiến thức
VSATTP (về điều kiện vệ sinh cơ sở, dụng cụ, chế biến,
bảo quản thực phẩm, vệ sinh nhân viên và ngộ
độc thực phẩm). Nhóm biến số nền gồm
loại h́nh bếp (tự nấu, hợp đồng nấu
tại công ty, xí nghiệp), đặc tính của phụ
trách bếp (tuổi, giới, tŕnh độ học vấn
và thời gian làm việc). Dữ kiện được nhập
theo chương tŕnh Epidata 3.0, xử lư thống kê bằng phần mềm
Stata 8.0.
KẾT QUẢ
Theo kế hoạch
mẫu nghiên cứu n = 267 BATT, tuy nhiên thực tế điều
tra chỉ thực hiện được 258 BATT, mất 9
mẫu chiếm tỷ lệ 3,4%.
Bảng 1: T́nh h́nh
phân bố BATT theo Quận/Huyện
|
Quận/ Huyện |
Tần số (%) |
Quận/ Huyện |
Tần số (%) |
Quận/ Huyện |
Tần số (%) |
|
Quận 1 |
7 (3) |
Quận 10 |
8 (3) |
G̣ Vấp |
5 (2) |
|
Quận 2 |
15 (6) |
Quận 11 |
6 (2) |
Thủ Đức |
6 (2) |
|
Quận 4 |
9 (4) |
Quận 12 |
35 (14) |
Hóc Môn |
13 (5) |
|
Quận 5 |
2 (1) |
B́nh Thạnh |
8 (3) |
B́nh Chánh |
27 (10) |
|
Quận 6 |
10 (4) |
Tân B́nh |
10 (4) |
Nhà Bè |
3 (1) |
|
Quận 7 |
24 (9) |
Tân Phú |
16 (6) |
Củ Chi |
14 (5) |
|
Quận 8 |
6 (2) |
Phú Nhuận |
4 (2) |
|
|
|
Quận 9 |
7 (3) |
B́nh Tân |
23 (10) |
|
|
|
Tổng cộng |
258 (100) |
||||

Biểu
đồ 1: Phân bố BATT theo khu vực nội và ngoại
thành

Biểu đồ 2: Phân bố BATT theo loại h́nh nấu ăn
Bảng 2: Đặc tính của người phụ trách trong BATT (n=258)
|
Đặc tính |
Tần số (%) |
|
|
Tuổi |
18 – 34 |
3 (1) |
|
35 - 49 |
198 (77) |
|
|
≥ 50 |
57 (22) |
|
|
Giới |
|
48 (19) |
|
Nữ |
210 (81) |
|
|
Tŕnh độ học
vấn |
≤ lớp 5 |
26 (10) |
|
Từ 6 – 11 |
150 (58) |
|
|
≥ lớp 12 |
82 (32) |
|
|
Thời gian làm việc |
< 1 năm |
19 (7) |
|
1 - 5 năm |
107 (42) |
|
|
> 5 năm |
131 (51) |
|
Phần lớn
người phụ trách bếp có độ tuổi từ
35 đến 49 (77%), đa số là nữ (81%), tŕnh độ
học vấn từ lớp 6 đến dưới lớp
12 (58%) và có thời gian làm việc trên 5 năm (51%).
Bảng 3: Tỷ lệ BATT không đạt VSATTP theo từng nội dung và theo cả 4 nội dung (n = 258)
|
Nội dung |
Đạt |
Không đạt |
|
n (%) |
n (%) |
|
|
Vệ sinh cơ sở
|
71 (28) |
187 (73) |
|
Vệ sinh dụng cụ |
97 (38) |
161 (62) |
|
vs chế biến, bảo
quản |
100 (39) |
158 (61) |
|
Vệ sinh nhân viên |
93 (36) |
165 (64) |
|
Cả 4 nội dung |
28 (11) |
230 (89) |
BATT không đạt
điều kiện về VSATTP chiếm tỷ lệ rất
cao (89%), trong đó nội dung không đạt chiếm tỷ
lệ cao nhất là vệ sinh cơ sở (73%).
Bảng 4: T́nh trạng dư
lượng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) và hàn the trong nguyên liệu chế biến tại bếp ăn tập thể, n = 258
|
Chỉ tiêu xét nghiệm |
Đạt n (%) |
Không đạt n (%) |
|
Dư lượng
HCBVTV |
252 (98) |
6 (2) |
|
Hàn the |
248 (96) |
10 (4) |
BATT có nguyên liệu
rau, củ, quả không an toàn về dư lượng HCBVTV
chiếm tỷ lệ 2% và bếp có nguyên liệu thịt
heo, cá, chả,...không đảm bảo an toàn về hàn the
chiếm tỷ lệ 4%.
Bảng 5: Kiến thức về VSATTP của người phụ trách bếp (n=258):
|
Nội dung |
Đúng |
Không đúng |
|
n (%) |
n (%) |
|
|
Hiểu biết về
vệ sinh cơ sở, dụng cụ chế biến |
167 (65) |
91 (35) |
|
Hiểu biết về
vệ sinh chế biến, bảo quản thực phẩm |
25 (10) |
233 (90) |
|
Hiểu biết về
vệ sinh nhân viên |
133 (52) |
125 (48) |
|
Hiểu biết về
ngộ độc thực phẩm |
185 (72) |
73 (28) |
|
Cả 4 nội dung |
13 (5) |
245 (95) |
Kết quả
phân tích cho thấy người phụ trách trong BATT chưa
có kiến thức đúng về VSATTP là 95%.

Biểu đồ 3: Biểu đồ kiến thức về VSATTP
Bảng 6: Thực hành của nhân viên tại BATT (n = 258)
|
Thực hành VSATTP |
Đúng |
Sai |
|
|
n (%) |
n (%) |
|
Chọn
nguyên liệu an toàn về mặt cảm quan |
248
(96) |
10 (4) |
|
Rửa
rau an toàn |
242
(94) |
16
(6) |
|
Sử dụng
kẹp gắp, dụng cụ khi chia thức ăn |
239
(93) |
19
(7) |
|
Bàn tay sạch,
móng tay cắt ngắn, không sơn |
88
(34) |
170 (66) |
|
Không bị
nấm móng, viêm da bàn, ngón tay |
190 (74) |
68 (26) |
|
Không
đeo nữ trang; nhẫn, đồng hồ, xuyến |
98
(38) |
160 (62) |
|
Bảo
vệ đúng cách vết thương bàn tay |
224
(87) |
34
(13) |
|
Mang mặc
đồng phục đủ |
156
(60) |
102
(40) |
|
Thực
hành đúng VSATTP |
30
(12) |
228
(88) |
Bếp ăn
tập thể có người trực tiếp tham gia chế
biến chưa thực hành đúng về VSATTP chiếm tỷ
lệ 88%.

Biểu đồ 4: Biểu đồ thực hành về VSATTP
Trong thực
hành VSATTP, tỉ lệ bếp có người chế biến
thức ăn thường sai phạm về nội dung
như bàn tay, móng tay không sạch là 66%, đeo tư trang là
62%, không mang mặc đồng phục khi tham gia chế biến
là 40%.
Bảng 7: Sự khác biệt giữa thực
hành VSATTP với t́nh trạng tập huấn kiến thức
VSATTP
|
Tập huấn
kiến thức VSATTP |
Thực
hành của nhân viên chế biến |
||
|
Đúng (n, %) |
Sai (n, %) |
p |
|
|
Có (n = 151) |
26 (17,2) |
125 (82,8) |
0.001 |
|
Không (n = 107) |
4 (3,7) |
103 (96,3) |
* |
|
Tổng (n = 258) |
30 (11,6) |
228 (88,4) |
|
(*) PR = 4,61,
KTC = 1,66 – 12,81
Có sự khác
biệt giữa tập huấn kiến thức VSATTP với thực hành đúng về
VSATTP. BATT có nhân viên đă tham gia tập huấn có tỷ lệ
nhân viên thực hành đúng nhiều hơn gấp 4,6 lần
so với BATT có nhân viên không tham gia tập huấn kiến
thức VSATTP và sự khác biệt
này có ư nghĩa thống kê. (*)
Bảng 8: Mối
liên hệ giữa điều kiện VSATTP với thực
hành đúng, n = 258
|
Các điều
kiện vệ sinh ATTP |
Thực hành VSATTP |
||
|
Đúng, n (%) |
Sai , n (%) |
p |
|
|
Đạt (n = 28) |
12 (42,9) |
16 (57,1) |
0,000 |
|
Không đạt (n =
230) |
18 (7,8) |
212 (92,2) |
* |
|
Tổng (n = 258) |
30 (11,6) |
228 (88,4) |
|
(*) PR = 5,48, KTC 95% = 2,96 – 10,14, p = 0,000
Có sự khác
biệt giữa thực hành và điều kiện vệ
sinh của BATT, BATT đảm bảo các điều kiện
vệ sinh th́ có tỷ lệ nhân viên thực hành đúng nhiều
hơn gấp 5,5 lần so với BATT không đảm bảo
các điều kiện vệ sinh, và sự khác biệt này
có ư nghĩa thống kê. (*)
BÀN LUẬN
Đặc tính của mẫu:
Điều
tra cắt ngang tiến hành trên cỡ mẫu là 267 BATT với
tỷ lệ mất mẫu thấp (3,4%), mẫu được
phân bố trên 22 quận/huyện của thành phố với
tỷ lệ lọai h́nh BATT nấu tại chỗ và hợp
đồng nấu tương đương nhau ((50%),
người phụ trách bếp có độ tuổi từ
35 đến 49 (77%), đa số là nữ (81%), tŕnh độ
học vấn từ lớp 6 đến dưới lớp
12 (58%) và có thời gian làm việc trên 5 năm (51%). Sự
phân bố này phù hợp với cơ cấu lọai h́nh bếp,
các đặc tính độ tuổi, giới tính, tŕnh độc
học vấn và thời gian làm việc của người
phụ trách bếp của các BATT thuộc công ty, xí nghiệp
trên địa bàn thành phố. Như vậy mẫu nghiên cứu
mang tính đại diện cho quần thể đích cần
khảo sát.
Tỷ lệ
BATT tại công ty, xí nghiệp tại thành phố Hồ Chí
Minh không đạt điều kiện VSATTP là 89% cao hơn
gấp 4 lần so với báo cáo hoạt động kiểm
tra về BATT của Trung tâm y tế dự pḥng thành phố
Hồ Chí Minh và các Đội Y tế dự pḥng Q/H năm
2002 (21%), năm 2004 (19%) (6), kết quả trên cho thấy t́nh
h́nh VSATTP trong BATT cần phải được quan tâm nhiều
hơn.
Tỷ lệ
BATT sử dụng nguyên liệu rau, củ có dư lượng
HCBVTV vượt giới hạn cho phép là 2,3%, theo báo cáo của
Chi cục Bảo vệ thực vật tỷ lệ mẫu
rau vượt mức an toàn trên thị trường thành phố
năm 2006 là 1,2% (6). Như vậy tỷ lệ ô nhiễm
HCBVTV trên các mẫu rau, củ, quả của nguyên liệu
thực phẩm trong BATT gần gấp 2 lần so với kết
quả khảo sát trên thị trường thành phố của
Chi cục Bảo vệ thực vật năm 2006.
Tỷ lệ
BATT có hàn the trong nguyên liệu thịt, cá, mực, chả là
4%, tỷ lệ thấp hơn 10 lần so với tỷ lệ
các mẫu thịt sống có chứa hàn the là 40%, trong đó
mẫu có hàn the trong thịt heo chiếm tỷ lệ 38,3%,
thịt trâu 45%, thịt ḅ 40% trong nghiên cứu đánh giá thực
trạng vệ sinh và sự lạm dụng hàn the trong bảo
quản và chế biến thực phẩm tại thành phố
Thái Nguyên năm 2002 của tác giả Phan Bích Ḥa và cộng sự.
(4)
Có 95% người
phụ trách trong BATT chưa có kiến thức đúng về
VSATTP. Có sự khác biệt giữa tỷ lệ người
phụ trách bếp có kiến thức đúng về vệ
sinh cơ sở, dụng cụ chế biến với tŕnh
độ tŕnh độ từ lớp 12 trở lên sẽ
có tỷ lệ người có kiến thức đúng nhiều
hơn gấp 1,4 lần nhóm từ lớp 12 trở xuống.
Tỷ lệ người phụ
trách bếp trực tiếp chế biến có thời gian
làm việc trên 5 năm có kiến thức đúng nhiều
hơn gấp 1,3 lần tỷ lệ người có thời
gian làm việc dưới 5 năm. Tỷ lệ người
có kiến thức đúng về vệ sinh nhân viên ở tuổi
dưới 50 nhiều hơn ở
tuổi trên 50. Tỷ lệ nam giới trả lời đúng về
kiến thức ngộ độc thực phẩm nhiều
hơn nữ giới. Ở tŕnh độ học vấn từ
lớp 12 trở lên, th́ tỷ lệ người trả lời
đúng về kiến thức ngộ độc nhiều
hơn gấp 1,2 lần ở tŕnh độ dưới lớp
12. Tỷ lệ người phụ trách bếp trực tiếp
trong BATT có kiến thức đúng là rất thấp, nhiều
nội dung kiến thức quan trọng chưa được
trả lời đúng, cho thấy muốn đạt hiệu
quả trong công tác đảm bảo VSATTP trên nhóm đối
tượng BATT th́ cần phải đẩy mạnh
chương tŕnh tập huấn kiến thức VSATTP riêng
cho nhóm đối tượng này.
Tỷ lệ
BATT có người trực tiếp tham gia chế biến
chưa thực hành đúng về VSATT là 88% BATT có nhân viên
đă tham gia tập huấn đầy đủ th́ có tỷ
lệ thực hành đúng về VSATTP cao hơn (4,6 lần)
so với BATT có nhân viên không
tham gia tập huấn kiến thức VSATTP , và BATT đảm
bảo các điều kiện VSATTP th́ có tỷ lệ nhân
viên thực hành đúng nhiều hơn gấp 5,5 lần so
với BATT không đảm bảo VSATTP. Điều này khẳng
định một lần nữa về tính cần thiết
của việc tập huấn kiến thức VSATTP trên
đối tượng BATT và tại BATT thực hiện tốt
các quy định về điều kiện vệ sinh th́
nhân viên tại đó sẽ có ư thức về VSATTP hơn.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu
cắt ngang 258 BATT thuộc công ty, xí nghiệp trên địa
bàn thành phố năm 2007 cho thấy tỷ lệ BATT không
đảm bảo điều kiện VSATTP là 89%, tỷ lệ
BATT có nguồn nguyên liệu không đảm bảo an toàn về
HCBVTV là 2,3%; không an toàn về hàn the là 4%. Tỷ lệ
người phụ trách bếp chưa có kiến thức
đúng về VSATTP là 95%. Tỷ lệ BATT có nhân viên chưa
thực hành đúng về VSATTP là 88%. Tỷ lệ người
phụ trách BATT ở độ tuổi dưới 50, tŕnh
độ học vấn từ lớp 12 trở lên, thời
gian làm việc trên 5 năm và giới tính là nam có kiến thức
đúng về VSATP th́ chiếm tỷ lệ nhiều
hơn. BATT đảm bảo các điều kiện vệ
sinh th́ có tỷ lệ nhân viên thực hành đúng nhiều
hơn và BATT có nhân viên đă tham gia tập huấn đầy
đủ th́ có tỷ lệ nhân viên thực hành đúng về
VSATTP
cao hơn.
GIẢI PHÁP
T́nh h́nh ngộ độc thực phẩm trong khu vực
BATT và nguy cơ ô nhiễm thực phẩm đang là một
trong những thách thức trong công tác đảm bảo
VSATTP hiện nay đứng trước những thách thức
như sau:
(1) Nguồn thực phẩm nguyên liệu cung cấp cho
BATT thường lớn, do đó phải thu gom từ rất
nhiều nguồn khác nhau do đó khó bảo đảm
VSATTP.
(2) Điều kiện cơ sở chế biến thực
phẩm tại BATT thường rất thủ công, khó kiểm
soát theo yêu cầu về VSATTP. Nhận thức về VSATTP
của người chế biến, kinh doanh dịch vụ
chưa cao.
(3) Tổ chức bộ máy quản lư VSATTP ở các cấp,
hệ thống thanh tra chuyên ngành, hệ thống kiểm
nghiệm chưa đủ nguồn nhân lực, trang thiết
bị đáp ứng nhu cầu phân tích.
(4) Nhân sự ở các BATT trong công ty, xí nghiệp thường
không ổn định, tŕnh độ học vấn thấp
nên kiến thức về VSATTP rất hạn chế.
Mặc dù các biện pháp kiểm soát ngộ độc
thực phẩm BATT đă được triển khai khá
đồng bộ, tích cực nhưng hiện nay nguy cơ
xảy ra ngộ độc thực phẩm bếp ăn tập
thể vẫn c̣n cao, do vậy cần triển khai đồng
bộ, triệt để các giải pháp kiểm soát trong
thời gian tới như:
Cần có sự
quan tâm đầu tư đúng mức về điều kiện
mặt bằng, dụng cụ, thiết bị cho pḥng
ăn, bếp nấu ăn tập thể. Có chế độ
giám sát hoạt động của BATT, chấn chỉnh kịp
thời các sai phạm. Thực hiện 03 bước tự
kiểm thực tại BATT.
Cần phải đặt ra
tiêu chuẩn khi tuyển dụng nhân viên nấu bếp về
tŕnh học vấn, về thâm niên làm việc và đảm
bảo đủ các điều kiện về sức khỏe
và tập huấn kiến thức VSATTP trước khi tuyển
dụng hoặc định kỳ khám sức khỏe và tập
huấn kiến thức VSATTP cho nhân viên phục vụ tại
BATT theo quy định
Nâng giá thành bữa ăn cho công
nhân cho phù hợp thời giá để có thể đảm
bảo giá trị dinh dưỡng và tính an toàn về vệ
sinh thực phẩm.
Nên tự tổ chức BATT tại
công ty, xí nghiệp hơn là hợp đồng nấu với
đơn vị ngoài.
- Tăng cường hoạt động quản lư, chỉ
đạo của Ban chỉ đạo liên ngành VSATTP tại
địa phương.
- Tăng cường thông tin tuyên truyền phổ biến
kiến thức, quy định của pháp luật cho các
đối tượng sử dụng dịch vụ, cung cấp
dịch vụ thức ăn sẵn và người tiêu dùng
về VSATTP, pḥng chống ngộ độc thực phẩm.
Yêu cầu các doanh nghiệp chịu trách nhiệm bảo
đảm VSATTP cho đơn vị, kư cam kết giữa
doanh nghiệp với y tế địa phương, Ban quản
lư khu công nghiệp, khu chế xuất.
- Triển khai đồng loạt trên 24Q/H Quyết định
11/2006/QĐ-BYT của Bộ Y tế về việc cấp
giấy chứng nhận đủ điều kiện
VSATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh
doanh thực phẩm có nguy cơ cao, ưu tiên trước
cho đối tượng là cơ sở BATT, các chợ lớn,
nhỏ và chợ đầu mối.
- Thiết lập hệ thống kiểm soát ô nhiễm
thực phẩm đồng bộ từ lúc nuôi trồng,
canh, cấy đến lưu thông phân phối, sử dụng.
Cần xây dựng, phát triển và duy tŕ các chuỗi thực
phẩm an toàn về rau, thịt, cá,…
- Tăng cường nhân lực và năng lực của
đội ngũ quản lư, thanh kiểm tra, kiểm nghiệm
vệ sinh thực phẩm trên địa bàn thành phố.
Thiết lập hệ thống thanh tra chuyên ngành vệ sinh
thực phẩm để kịp thời chấn chỉnh,
xử lư các vi phạm về VSATP, triển khai và duy tŕ sử
dụng bộ test nhanh khi thanh tra, kiểm tra.
- Thiết lập
một hệ thống thông tin về t́nh trạng an toàn vệ
sinh, chất lượng của các loại thực phẩm
đang lưu thông trên địa bàn
thành phố.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Codex, Alimentarius Commisson (1997). Food
Hygiene basis texts.
2. FAO (1998), Management of food control programmes. FAO of the united National , pp 16-19.
3.
FDA (1982), Guidelines for Determination of the
Absorption Distribution, Metabolism and Elimination. Characteristics of food
Additives. FDA
4. Hà Thị Anh Đào, Phạm Thanh Yến (2003), Thực trạng vệ sinh an toàn thức ăn chế biến sẵn trên thị trường Hà Nội, Nxb Y học, Hà Nội, tr 99-105.
5. Phan Bích Ḥa, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hoàng Anh (2003), Đánh giá thực trạng vệ sinh và sự lạm dụng hàn the trong bảo quản và chế biến thực phẩm tại thành phố Thái Nguyên, Nxb Y học, Hà Nội, tr 114-126.
7. WHO (1992), Evaluation of programmes to ensure food saety, In: food safety assessement (Finbaby J.W Robinson SF and Amstrong), WHO, Washington, 484, pp 232-242.
* Sở Y tế Tp.Hồ Chí Minh
Địa chỉ
liên hệ: Nguyễn
Minh Hùng ĐT: 0919892677 Email: hoatc.syt@tphcm.gov.vn