Trịnh Hồng Lân* và cộng sự*
TÓM TẮT
Đặt
vấn đề: Ngành may công nghiệp Việt
Mục
tiêu: Xác định
tỉ lệ công nhân ngành may công nghiệp bị SNN và các yếu
tố liên quan tại một số doanh nghiệp may thuộc
các tỉnh thành phía
Phương
pháp và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả
được thực hiện bằng cách điều tra
phỏng vấn các công nhân ngành may công nghiệp .
Kết
quả: Công nhân may đa số là công nhân trẻ (65% có độ
tuổi dưới 35) và 89% là lao động nữ. Tỉ
lệ công nhân có biểu hiện Stress nghề nghiệp
dưới nhiều mức độ khác nhau là 71%. Nhóm công
nhân trẻ dưới 31 tuổi có tỉ lệ bị
stress cao hơn hẳn nhóm công nhân có tuổi đời
≥31 tuổi, công nhân có tuổi nghề thấp bị
stress nhiều hơn công nhân có tuối nghề cao. Có sự
khác biệt về tỉ lệ stress nghề nghiệp ở
nhóm công nhân làm việc ở công ty nước ngoài và công ty
trong nước (Công nhân làm việc ở công ty nước
ngài bị stress nhiều hơn). Sự khác biệt là có ư
nghĩa thống kê với p <0,001.
Kết
luận – Kiến nghị:
Công nhân may công nghiệp
có tỉ lệ stress rất cao, đặc biệt là các
công nhân trẻ. Để giải quyết vấn đề
này các công ty may nên có các biện pháp thích hợp để giảm
stress cho những đối tượng có stress ở mức
cao thông qua các hoạt động như: t́m hiểu kỹ hơn về tâm
tư, nguyện vọng của người lao động.
Kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc
ở người lao động. Động viên kịp thời
người lao động để họ yên tâm công tác; tổ
chức các buối nói chuyện về tâm lư lao động,
tâm lư xă hội giúp người lao động nhận rơ những
yếu tố nguy cơ dẫn tới stress cũng như
các giải pháp pḥng chống stress. Tạo điều kiện,
khuyến khích các hoạt động văn hóa, văn nghệ,
thể dục thể thao tại đơn vị.
Từ
khóa:
stress occupational, công nhân ngành may công nghiệp
ABSTRACT
OCCUPATIONAL STRESS OF
WORKERS AT GARMENT
INDUSTRY
IN THE SOUTHERN PROVINCES OF VIETNAM
Trinh Hong Lan and el al * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 217 - 221
Background: In the developing period of Vietnamese economy, garment industry is getting
increasingly expanded with millions of workers, among which most of them are
women. Under the pressure of work, employee are likely to bear psychologically
nervour strain. This has affected their health, and even to be under
occupational stress. Therefore, it’s essential to research for factors
causing psychologically nervour strain
and find out solutions for occupational stress prevention.
Objectives: Determine the prevalence of worker with stress and related factors at garment companies in the Southern
provinces of
Materials
and Method: A descriptive
cross-sectional study. Data were
collected through interviews using structured questionnaire.
Results: The results showed that : 65% workers are under 35 years old and 89% of
them are women. The prevalence of regular stress of subjects was 71%. The prevalence of workers under 31 years old (who was under occupational
stress) are much higher than above 31 years old group. Similarly, the percentage of occupational
stress of workers who have shorter length of service is higher than that of
workers who have longer length of service. There is much difference in the percentage of occupational
stress among workers groups working in foreign company and Vietnam company The
difference is statistically meaningful with p<0.001.
Conclusion: The prevalence of occupational stress of garment
workers is rather high, especially young workers (under 31 years old).
To solve this, garment companies
should plan appropriate methods to help
workers who have been stress by some activities, such as: to find out about
feelings and aspirations of workers, to solve timely their difficulties;
encouraging them timly in oder to reassure them to work; organizing
occupational psychology meetings as well as social psychology to help workers
understand clearly risky factors of stress and preventive methods of stress;
making opportunities for cultural activities, performance, physical exercise at
the companies.
Keywords: stress occupational, workers at garment industry
ĐẶT VẤN ĐỀ
Stress nghề
nghiệp là một căn bệnh khá phổ biến ở
các nước trên Thế giới. Theo các báo cáo kết quả
nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ th́ những rối
loạn tâm thần liên quan đến nghề nghiệp ngày
càng tăng và là nguyên nhân chính của hiện tượng giảm
khả năng lao động ở công nhân. Cứ 3 công nhân
th́ có 1 người vào một ngày nào đó kêu đau ốm
v́ những vấn đề có liên quan tới stress nghề
nghiệp (theo
Greenwood, 1980).(2)
Cùng với sự
phát triển nhanh chóng của ngành dệt may trong cả
nước nói chung, ngành may công nghiệp Việt Nam trong
giai đoạn phát triển nền kinh tế hiện nay
đang ngày càng phát triển mạnh mẽ với một lực
lượng lao động lên tới hàng triệu người,
trong đó đa phần là lao động nữ. Ngành may
công nghiệp đóng một vai tṛ hết sức quan trọng
về mặt kinh tế và xă hội trong quá tŕnh xây dựng
và phát triển đất nước.
Trong những năm gần đây, điều kiện
lao động của người lao động cũng từng
bước được cải thiện hơn. Tuy vậy,
dưới áp lực của công việc, hàng ngày hàng giờ
người lao động phải gánh chịu những
căng thẳng thần kinh tâm lư. Điều này đă ảnh
hưởng không nhỏ tới sức khỏe người
lao động, và thậm chí có thể gây ra bệnh Stress
nghề nghiệp cho người lao động. Việc
nghiên cứu t́m ra những yếu tố có liên quan gây
căng thẳng tâm lư và qua đó đưa ra các giải
pháp pḥng chống Stress nghề nghiệp cho người lao
động là hết sức cần thiết để bảo
vệ sức khỏe cho người lao động.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung
Xác định tỉ lệ công nhân ngành may công nghiệp
bị stress nghề nghiệp và các yếu tố liên quan tại
một số doanh nghiệp may thuộc các tỉnh thành phía
Nam.
Mục tiêu cụ thể
- Xác định tỉ lệ công nhân may bị stress
nghề nghiệp.
- Xác định các yếu tố liên quan gây ra stress.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả.
Địa điểm nghiên cứu
Tại 3 Công ty thuộc 3 tỉnh:
Đồng Nai, B́nh Dương và Tp. HCM.
Thời gian nghiên cứu
Từ năm 2007 – 2008.
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả công nhân trực
tiếp và gián tiếp tại các phân xưởng may công nghiệp,
có tuổi
nghề ≥ 1 năm.
Kỹ thuật chọn mẫu
Lấy mẫu toàn bộ 3
phân xưởng may công nghiệp tại 3 công ty may (mỗi
công ty chọn toàn bộ 1 phân xưởng) với n = 1.009 công
nhân.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành bằng cách phỏng vấn người lao động các phân xưởng may công nghiệp theo bộ câu hỏi soạn sẵn.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đặc tính mẫu nghiên cứu
Kết quả điều
tra khảo sát cho thấy công nhân may công nghiệp có độ
tuổi khá trẻ. Số công nhân có độ tuổi
dưới 35 chiếm tới 65 %, trong đó riêng độ
tuổi ≤ 25 tuổi chiếm tới 30%. Về thâm niên
công tác, có tới 83% công nhân có thâm niên công tác trong ngành may công
nghiệp ≤ 15 năm, trong đó có tới 39% công nhân có
thâm niên từ 1 – 5 năm. Về giới tính th́ có tới
89% là lao động nữ. Về tŕnh độ văn hóa,
đa số công nhân có tŕnh độ văn hóa cấp THCS
(62%), số có tŕnh độ Trung cấp, Cao đẳng và
Đại học chiếm tỉ lệ rất thấp (chỉ
có 5%). Những kết quả này hoàn toàn phù hợp với
thực tế đặc điểm của ngành may công
nghiệp đó là đ̣i hỏi công nhân có độ tuổi
c̣n trẻ, công việc phù hợp với lao động nữ
và công việc chỉ đ̣i hỏi sự nhanh nhẹn và
khéo léo là chính, công việc khá giản đơn, thủ công
và không nhất thiết đ̣i hỏi người lao động
phải có tŕnh độ văn hóa cao. Các kết quả
nghiên cứu này cũng khá tương đồng với
các kết quả điều tra nghiên cứu của Nguyễn
Đ́nh Dũng
và CS.(5)
T́nh trạng stress nghề nghiệp
Bảng
1: Tỉ lệ Stress ở
công nhân may (n = 1009)
|
|
Tần số |
Tỉ lệ
(%) |
|
Có biểu hiện Stress |
721 |
71 |
|
Không bị Stress |
288 |
29 |
|
Tổng cộng |
1009 |
100 |
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ công nhân may công nghiệp có biểu hiện bị Stress chiếm tỉ lệ rất cao (71%), trong đó Stress ở mức độ cao có liên quan tới hứng thú và hấp dẫn nghề nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất (64%). Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ công nhân may bị stress nghề nghiệp cao hơn khá nhiều so với các cán bộ nhân viên ngành Y tế (27 – 53,1% trong các nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và Lê Thành Tài).(3,4) Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy nghề may công nghiệp có thể không phải là một nghề có thể gây hứng thú và hấp dẫn cho người lao động trong giai đoạn hiện nay. Có lẻ là do nghề may công nghiệp là một nghề khá đơn điệu, lao động triền miên và cũng không phải là một nghề có thu nhập cao. Điều này cũng khá phù hợp với hiện tượng khá phổ biến hiện nay đă từng được dư luận và báo chí lên tiếng đó là t́nh trạng rất nhiều công nhân may không ổn định tư tưởng. Họ nghỉ việc hoặc thường xuyên chuyển nơi làm việc khác có thu nhập cao hơn. Gây ra t́nh trạng biến động rất lớn về lực lượng lao động ngành may và nhiều khi gây khó khăn do thiếu nhân công ở các công ty may tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam.
Một số yếu tố liên quan trong công việc thường gây stress
Bảng
2: Mối liên quan giữa
stress nghề nghiệp của các đối tượng
ngiên cứu với 3 công ty may đang
khảo sát
|
Công ty |
Stress nghề nghiệp Tần số (Tỉ lệ) |
p-value |
OR (KTC 95) |
|
|
Stress |
Không stress |
|||
|
Cty May ĐN |
277 (67) |
136 (33) |
|
1 |
|
Cty May PP |
225 (66) |
116 (34) |
0,753 |
0,95 (0,72 – 1,29) |
|
Cty May HW (HongKong) |
219 (86) |
36 (14) |
<0,001 |
2,97 (1,97 – 4,49) |
Kết quả cho thấy có sự khác biệt về mức độ Stress ở công nhân may làm ở công ty của Việt Nam với công ty nước ngoài. Có tới 86% công nhân ở Công ty HW bị Stress trong khi chỉ có 66 – 67% công nhân ở công ty Việt Nam bị Stress. Sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê (p<0,001). Điều này có thể là do chế độ làm việc ở các công ty nước ngoài thường căng thẳng và chặt chẽ hơn nhiều so với các công ty của Việt Nam.
Bảng
3: Mối liên quan giữa stress nghề
nghiệp với đặc tính mẫu
|
Đặc điểm |
Stress nghề nghiệp Tần số (Tỷ lệ) |
p-value |
OR (KTC 95) |
|
|
Stress |
Không stress |
|||
|
Tuổi |
||||
|
≤ 25 tuổi |
241 (80) |
59 (20) |
|
1 |
|
26 – 30 tuổi |
143 (79) |
37 (21) |
0,814 |
0,95 (0,60 – 1,50) |
|
31-35 tuổi |
117 (66) |
61 (34) |
<0,001 |
0,47 (0,31 – 0,72) |
|
>35 tuổi |
220 (63) |
131 (37) |
<0,001 |
0,41 (0,29 – 0,59) |
|
Thâm niên CT |
||||
|
1-5 năm |
308 (78) |
88 (22) |
|
1 |
|
6-10 năm |
167 (76) |
52 (24) |
0,666 |
0,92 (0,62 – 1,36) |
|
11-15 năm |
137 (63) |
81 (37) |
<0.001 |
0,48 (0,34 – 0,69) |
|
> 15 năm |
109 (62) |
67 (38) |
<0,001 |
0,46 (0,32 – 0,68) |
Kết quả cho thấy tỉ lệ công nhân may bị Stress ở nhóm công nhân trẻ dưới 31 tuổi, có tuổi nghề dưới 11 năm cao hơn khá nhiều so với các nhóm tuổi đời ≥ 31 tuổi và có tuổi nghề ≥ 11 năm. Sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê với p <0,001. Kết quả này cho thấy xu hướng những công nhân trẻ, có tuổi nghề thấp dễ bị Stress hơn là các nhóm có độ tuổi cao, có thâm niên làm việc lâu năm. Điều này có thể là do những công nhân lớn tuổi là những người từng trải, có kinh nghiệm sống hơn và thường có xu hướng thích ổn định so với các công nhân trẻ. Mặt khác họ cũng ít có cơ hội lựa chọn công việc hơn so với nhóm công nhân trẻ, do vậy họ cũng thường có tâm lư chấp nhận hiện tại và bằng ḷng với những điều kiện hiện tại của ḿnh. Có thể đây chính là lư do khiến họ ít bị Stress hơn so với các công nhân trẻ.
Bảng
4: Mối liên quan giữa
stress nghề nghiệp của các đối tượng
nghiên cứu
|
Công việc |
Stress nghề nghiệp Tần số (Tỷ lệ) |
p-value |
OR (KTC 95) |
|
|
Stress |
Không stress |
|||
|
Trực tiếp |
558 (73) |
210 (27) |
0,132 |
1,27 (0,92 – 1,76) |
|
Gián tiếp |
163 (68) |
78 (32) |
||
Bảng
5: Mối liên quan giữa stress nghề nghiệp với
tính chất công việc
|
Tính chất công việc |
Stress nghề nghiệp (Tần số/Tỷ lệ) |
p-value |
OR (KTC 95) |
|
|
Stress |
Không stress |
|||
|
Đơn điệu-
liên tục |
420(71) |
172(29) |
|
1 |
|
Đơn điệu
-ngắt quăng |
129(75) |
44(25) |
0,352 |
1,20 (0,82 – 1,77) |
|
Đa dạng - liên tục |
172(70) |
72(30) |
0,896 |
0,98 (0,71 – 1,36) |
Kết quả
bảng 4,5 cho thấy không có sự khác biệt nhiều giữa
tỉ lệ công nhân may bị Stress ở nhóm công nhân trực
tiếp trong dây truyền may và nhóm công nhân gián tiếp. Đồng
thời cũng không thấy có sự khác biệt nhiều về
tỉ lệ công nhân bị Stress ở những bộ phận
công nhân phải làm việc với các tính chất công việc
khác nhau. Những sự khác biệt này không có ư nghĩa thống
kê (p > 0,05). Điều này cũng có thể là do đă là
công nhân may ở trong cùng một phân xưởng th́ đều
phải cùng chung những điều kiện lao động
nhất định với những áp lực công việc
tương đương nhau ở tất cả các bộ
phận.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đă cho thấy: Công nhân may đa số là công nhân trẻ (65% có độ tuổi dưới 35) và 89% là lao động nữ. Tỉ lệ công nhân có biểu hiện Stress nghề nghiệp dưới nhiều mức độ khác nhau là 71%. Công nhân trẻ dưới 31 tuổi có tỉ lệ bị stress cao hơn hẳn nhóm công nhân có tuổi đời ≥31 tuổi, công nhân có tuổi nghề thấp bị stress nhiều hơn công nhân có tuối nghề cao. Công nhân làm việc ở công ty nước ngoài có tỉ lệ stress cao hơn so với công ty trong nước. Sự khác biệt là có ư nghĩa thống kê với p <0,001. Không thấy có sự khác biệt nhiều về tỉ lệ bị stress ở các nhóm công nhân có tính chất công việc khác nhau.
KIẾN NGHỊ
Các cán bộ
quản lư, nhân viên y tế Công ty nên t́m hiểu kỹ
hơn về tâm tư, nguyện vọng của người
lao động. Kịp thời động viên, tháo gỡ
những khó khăn vướng mắc.
Công ty nên
thường xuyên tổ chức các buối nói chuyện về
tâm lư lao động, tâm lư xă hội giúp người lao
động nhận rơ những yếu tố nguy cơ dẫn
tới stress cũng như các giải pháp pḥng chống và ứng
phó với stress nói chung và stress nghề nghiệp nói riêng.
Tạo điều
kiện, khuyến khích các hoạt động
văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao tại
đơn vị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Corten P. Stresss và tâm lư bệnh học. In: GS.Isidore Pelc, BS Lâm Xuân Điền. Sổ tay Tâm lư Y học. Chi nhánh TP.HCM, NXB y học, 2005:485 – 491.
2.
Đặng
Phương Kiệt (1998). Stress
và đời sống. Nhà xuất bản xă hội, p.180
5.
Nguyễn
Đ́nh Dũng và CS (2003). Điều kiện lao
động và gánh nặng lao động ở công nhân
tại các Công ty may thuộc Tổng công ty Dệt – May
Việt Nam.
*
Viện Vệ sinh - Y tế Công cộng Tp. Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên hệ: ThS. Trịnh Hồng Lân ĐT: 0903736894 Email: trinhhonglan07@yahoo.com.vn