SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA SINH VIÊN Y TẾ CÔNG CỘNG VÀ SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG
TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2009

Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh*, Michael Dunne**

TÓM TẮT

Bối cảnh: Có rất ít các nghiên cứu t́m hiểu về vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT) của sinh viên các trường Đại học/Cao đẳng ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là ở Việt Nam. Nghiên cứu này tiến hành nhằm xác định một số vấn đề về sức khỏe tâm thần, các yếu tố nguy cơ cũng như bảo vệ đối với vấn đề này ở sinh viên chính quy của 2 khoa Y tế công cộng (YTCC) và Điều dưỡng (ĐD) tại Đại học Y Dược Tp.HCM (ĐHYD TP.HCM),
 Việt Nam.

Mục tiêu: Xác định các vấn đề về SKTT và các yếu tố liên quan (bao gồm cả yếu tố bảo vệ và yếu tố nguy cơ) có tác động đến SKTT của sinh viên khoa YTCC và ĐD tại ĐHYD TP.HCM.

Phương pháp: Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang trên 401 sinh viên của 2 khoa. Bộ câu hỏi tự điền được thiết kế gồm các đề mục về đặc tính dân số, cấu trúc chức năng gia đ́nh, các sự kiện gây áp lực trong cuộc sống và sự gắn bó của sinh viên đối với nhà trường. Ngoài ra, bộ câu hỏi cũng sử dụng những thang đo về các mức độ Trầm cảm, Lo âu, Hạnh phúc và Hy vọng

Kết quả: Sinh viên nữ có khuynh hướng lo âu nhiều hơn nhưng lại ít trầm cảm hơn sinh viên nam. Những yếu tố gia đ́nh có ảnh hưởng đến mức độ trầm cảm của sinh viên nam trong khi những yếu tố liên quan đến môi trường học tập có mối liên hệ mạnh mẽ với mức độ trầm cảm của sinh viên nữ. Chiều hướng tích cực của sức khỏe tâm thần được đo lường thông qua các thang đo về hạnh phúc và hy vọng trên sinh viên nam chịu ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến nhà trường. Đối với nữ, tất cả các nhóm biến độc lập bao gồm các đặc điểm về gia đ́nh, nhà trường và xă hội, đều có tác động đến cảm nhận về hạnh phúc và hy vọng của họ.

Kết luận: SKTT của đối tượng sinh viên không chỉ chịu ảnh hưởng của chất lượng môi trường học tập và gia đ́nh mà c̣n bị chi phối bởi các đặc điểm cá nhân và xă hội. Những nỗ lực để nâng cao SKTT của sinh viên các trường Đại học/Cao đẳng là rất quan trọng, đặc biệt là ở các quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế và biến đổi xă hội nhanh như Việt Nam. Đây là vấn đề cần được ưu tiên trong chương tŕnh y tế công cộng để có thể làm tăng sự quan tâm và hỗ trợ của xă hội cho những dịch vụ tham vấn và các chiến lược can thiệp sớm để cải thiện SKTT cho thế hệ tương lai của tổ quốc.

Từ khóa: Sức khỏe tâm thần, Trầm cảm, Lo âu, Hạnh phúc, Hy vọng, Sinh viên.

ABSTRACT

EXPLORING THE MENTAL HEALTH OF PUBLIC HEALTH AND NURSING STUDENTS
 IN HO CHI MINH CITY, VIETNAM

Huynh Ho Ngoc Quynh, Michael Dunne
* Y Hoc TP.Ho Chi Minh * Vol. 14 -Supplement of No 1 -2010: 95 - 100

Background: There has been very little research conducted on the mental health status of university students in South East Asia countries, especially in Vietnam. We conducted this study to identify the types of mental health problems and risk and protective factors influencing the mental health of undergraduate Bachelor of Public Health and Nursing students in Ho Chi Minh City University of Medicine and Pharmacy (HCMC UMP), Vietnam.

Objectives: To identify mental health problems and associated factors (including both protective and risk factors) that influence the mental health of undergraduate bachelor public health and nursing students in Ho Chi Minh City University of Medicine and Pharmacy, Vietnam

Methods: A cross-sectional survey was conducted with a total of 401 students participated. The questionnaire included items on demographics, family structure and functioning, stressful life events and student’s connectedness with their university. Moreover, Standard scales for Depression, Anxiety and Self-Esteem, Happiness and Hopefulness were used.

Results: The results indicated that female students tend to be more anxious but less depressed than male counterparts. Familial factors appeared to be influential in the depression levels of male students, while school environmental factors were more strongly associated with female depression. Positive mental health and well-being, as measured by happiness and hope, was impacted upon by school factors, but not family and social factors, in male students. For women, three groups of independent factor, namely family, school and social characteristics, influenced the extent to which they were hopeful or happy.

Conclusions: Students’ mental health is not only affected by the quality of family and school environments but also by personal and social characteristics. Efforts to promote the mental health of university students are important, especially in countries in undergoing rapid economic and social change, such as Vietnam. The issue needs to be prioritised on the national public health agenda in order to increase awareness of need for support, to advocate for student counselling services and generate early intervention strategies for these young people.

Keywords: Mental health, Depression, Anxiety, Hope, Happiness.


ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh xă hội đương đại, sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật kéo theo những biến đối về mặt văn hóa xă hội ảnh hưởng đến các mối quan hệ tinh thần giữa người và người. Số hiện mắc và những vấn đề SKTT trong cộng đồng ngày một tăng, đặc biệt là ở nhóm vị thành niên và thanh niên. Đây cũng được nhận định là một thử thách mới của Y tế công cộng. Trên thế giới, đă có rất nhiều nghiên cứu về SKTT của thanh niên, bao gồm cả nhóm sinh viên các trường đại học cao đẳng, được triển khai; đặc biệt là ở các quốc gia nói tiếng Anh. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn c̣n khá mới mẻ đối với khu vực Đông Nam Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Và do đó, so với các lĩnh vực khác của chăm sóc y tế, SKTT chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Trong báo cáo của WHO năm 2006 về chăm sóc SKTT ở Việt Nam, tác giả Trudy Harpham và Trần Tuấn nhận định rằng “Ở Việt Nam, những bằng chứng về gánh nặng bệnh tật do các vấn đề về sức khỏe tâm thần gây ra khá phức tạp và những nghiên cứu trên lĩnh vực này chưa được phát triển”(15,16). Xuất phát từ nhu cầu muốn t́m hiểu về các vấn đề SKTT và các yếu tố liên quan (bao gồm cả yếu tố bảo vệ và yếu tố nguy cơ) ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của sinh viên như thế nào, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên đối tượng sinh viên khoa YTCC và sinh viên khoa Điều dưỡng tại Đại học Y Dược Tp.HCM với giả thuyết nghiên cứu rằng các yếu tố gia đ́nh, nhà trường và các mối quan hệ xă hội có mối liên quan đến t́nh trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên (làm giảm trầm cảm, lo âu; đồng thời làm tăng mức độ hạnh phúc và hy vọng)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế NC

Cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu

401 sinh viên khoa YTCC và khoa ĐD, ĐHYD TP.HCM

Thời gian nghiên cứu

 01/2009 – 06/2009

Phương pháp và Công cụ nghiên cứu

Phỏng vấn gián tiếp qua Bộ câu hỏi tự điền

Kiểm soát sai lệch chọn lựa và sai lệch thông tin

Do chọn mẫu toàn bộ nên hạn chế tối đa sai lệch chọn lựa. Ngoài ra, việc tập huấn điều tra viên và nghiên cứu pilot được tiến hành trước đó cũng phần nào giúp hạn chế được sai lệch trong quá tŕnh thu thập thông tin

Phân tích và xử lư số liệu

Số liệu được nhập bằng Epi Data 3.02 và phân tích bằng SPSS 17.0

Vấn đề Y đức

Nghiên cứu đảm bảo tính bí mật về mặt thông tin cho đối tượng tham gia nghiên cứu và đă được sự chấp thuận của Hội đồng Y Đức trường ĐH Công nghệ Queensland, Australia.

KẾT QUẢ

Độ tuổi trung b́nh của đối tượng tham gia nghiên cứu là 21,2 tuổi (độ lệch chuẩn là 1,9). Trong đó, tỉ lệ sinh viên của 2 khoa, YTCC & Điều dưỡng, tham gia trong nghiên cứu lần lượt là 44,1% và 55,9%. Tuy nhiên, kết quả cũng cho thấy số sinh viên nữ  tham gia vào nghiên cứu cao hơn rất nhiều so với số sinh viên nam. 96,3% đối tượng là dân tộc Kinh, số c̣n lại là dân tộc Hoa, Chăm và Khơ me.

Bảng 1: Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

Đặc điểm

Tần số

Tỉ lệ (%)

Khoa (n=401)

Y tế công cộng

Điều dưỡng

 

177

224

 

44,1

55,9

Giới tính (n=401)

Nam

Nữ

 

93

308

 

23,2

76,8

Năm học (n=401)

Năm thứ 1

Năm thứ 2

Năm thứ 3

Năm thứ 4

 

81

112

105

103

 

20,2

27,9

26,2

25,7

Dân tộc (n=401)

Kinh

Hoa

Khác 

 

386

8

7

 

96,3

2,0

1,7

Tôn giáo (n=401)

Không

Có theo 1 tôn giáo

 

240

161

 

59,9

40,1

T́nh trạng kinh tế gia đ́nh (n=401)

Khá giả

Trung b́nh

Thấp/khó khăn

 

15

365

21

 

3,8

91,0

5,2

Bảng 2 tŕnh bày kết quả t-test trong khi so sánh trung b́nh của các chỉ số trầm cảm, lo âu, hy vọng và hạnh phúc ghi nhận theo khoa và theo năm học của đối tượng nghiên cứu. Dựa trên kết quả, chúng ta thấy rằng dường như sinh viên Điều dưỡng lạc quan về tương lai hơn sinh viên YTCC. Giữa sinh viên các năm, mặc dù kết quả chưa t́m thấy sự khác biệt về trầm cảm và lo âu nhưng lại t́m được sự khác biệt rơ ràng trong nhận định của họ về hy vọng và hạnh phúc. Sinh viên năm thứ 4 cảm thấy họ có nhiều hy vọng và hạnh phúc hơn sinh viên các năm dưới

Bảng 2: Mối liên quan giữa Trầm cảm, Lo âu, Hy vọng và Hạnh phúc với sinh viên giữa 2 khoa và giữa các năm học

Thang đo

Khoa

Năm học

YTCC (n=177)

ĐD (n=224)

t-test
(p-value)

Năm 1

(n=81)

Năm 2 n=112

Năm 3 n=105

Năm 4 n=103

ANOVA (p_
value)

Mean (SD)

Mean (SD)

Mean (SD)

Mean (SD)

Mean (SD)

Mean (SD)

Trầm cảm

17,6
(6,3)

16,5
(6,6)

1,7 (0,90)

17,8
(6,4)

17,5
(6,9)

16,4
(5,7)

16,5
(6,7)

0,3

Lo âu

25,2
(4,7)

25,6
(4,1)

-0,8
(0,08)

26,0
(4,5)

25,3
(4,2)

26,1
(4,4)

24,6
(4,5)

0,07

Hy vọng

47,5
(8,3)

48,4
(6,8)

-1,2
(0,01)

47,5
(7,5)

46,9
(8,6)

48,0
(6,4)

49,7
(6,9)

0,04

Hạnh phúc

16,8
(3,9)

17,2
(3,8)

-0,9
(0,9)

16,9
(4,2)

16,3
(4,0)

17,2
(3,4)

17,9
(3,7)

0,02

Bảng 3 dưới đây tổng hợp các mối liên quan giữa sự trầm cảm và các biến số độc lập, được phân theo giới tính. Sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ và mối gắn kết với nhà trường có liên quan đến sự trầm cảm của đối tượng nghiên cứu. Ngoài ra, kết quả phân tích cũng cho thấy thành tích học tập và các mối quan hệ xă hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự trầm cảm ở nhóm nữ sinh viên.

Bảng 3. Mối liên quan giữa các yếu tố Gia đ́nh, nhà trường và quan hệ xă hội với Sự trầm cảm (chia theo giới tính)

Các yếu tố Gia đ́nh, Nhà trường và Quan hệ XH

Nam

Nữ

B

T

p-value

B

T

p-value

Sự q.tâm của mẹ

Sự q.tâm của cha

Gắn kết với nhà trường

Thành tích học tập

Quan hệ xă hội

Tự nhận thức về bản thân (tự trọng)

-1,0

1,6

-0,4

 

 

 

-2,2

3,8

-2,7

0,02

0,00

0,00

0,7

 

-0,2

 

-0,3

-0,5

-0,7

2,7

 

-2,3

 

-3,0

-5,0

-6,1

0,006

 

0,021

 

0,002

0,000

0,000

Năm học

TĐHV của mẹ

-1,5

4,1

-2,4

2,1

0,01

0,03

 

 

 

Bảng 4: Mối liên quan giữa các yếu tố Gia đ́nh, nhà trường và quan hệ xă hội với Sự lo âu (chia theo
giới tính)

 

Các đặc điểm về Gia đ́nh, nhà trường và QHXH

Nam

Nữ

B

T

p-value

B

T

p-value

Gắn kết với nhà trường

Thành tích học tập

Quan hệ xă hội

Diện mạo bản thân (vẻ bề ngoài)

 

 

  0,3

 

 

 

-2,5

 

 

 

0,012

-0,2

-0,3

-0,4

-0,2

-3,6

-5,1

-6,6

-3,0

0,000

0,000

0,000

0,003

Xung đột giữa ACE

TĐHV của mẹ

Nghề nghiệp của mẹ

 

  3,4

 -2,1

 

 3,5

-2,1

 

0,001

0,031

0,7

 

2,3

 

0,021

 

Bảng 5 và 6 cho thấy cảm nhận về hạnh phúc và hy vọng ở cả nam và nữ đối tượng nghiên cứu chịu tác động mạnh mẽ bởi yếu tố thành tích học tập. Trong khi sự gắn kết với nhà trường có tác động đến hạnh phúc của nam đối tượng; th́ diện mạo bên ngoài và xung đột của cha mẹ có mối liên quan đến sự hạnh phúc và hy vọng của nữ đối tượng.

Bảng 5: Mối liên quan giữa các yếu tố Gia đ́nh, nhà trường và quan hệ xă hội với Sự hạnh phúc (chia theo giới tính)

Các đặc điểm về Gia đ́nh, nhà trường và QHXH

Nam

Nữ

B

T

p-value

B

T

p-value

Gắn kết với nhà trường

Thành tích học tập

Diện mạo bản thân
(vẻ bề ngoài)

0,1

0,2

 

2,2

2,4

0,024

0,016

 

0,3

0,3

 

4,5

4,0

 

0,000

0,000

Cha mẹ có xg đột

 

 

 

-1,5

-2,9

0,003

Bảng 6: Mối liên quan giữa các yếu tố Gia đ́nh, nhà trường và quan hệ xă hội với Sự hy vọng (chia theo giới tính)

Các đặc điểm về Gia đ́nh, nhà trường và QHXH

Nam

Nữ

B

T

p-value

B

T

p-value

Thành tích học tập

Diện mạo bản thân

0,8

 

3,3

 

0,001

0,9

0,6

8,4

4,8

0,000

0,000

Năm học

Kinh tế gia đ́nh

TĐHV của cha

 

 

 

1,0

3,1

-2,7

2,9

2,2

-2,5

0,004

0,023

0,011

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy, SKTT của sinh viên YTCC và Điều dưỡng - Đại học Y dược Tp.HCM chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố thuộc về cá nhân, quá tŕnh đào tạo và nghề nghiệp tương lai. Điều này phù hợp với mô h́nh các nguyên nhân và kết quả của các stress âm tính trên sinh viên của tác giả Dyrbye và cộng sự (5). Chưa t́m thấy mối liên quan giữa các yếu tố gia đ́nh và chiều hướng tốt của t́nh trạng sức khỏe tâm thần trên nam; tuy nhiên, nghiên cứu đă t́m thấy ở nữ có mối liên hệ giữa vấn đề trên với tŕnh độ học vấn của cha (cao), xung đột cha mẹ (ít) và t́nh trạng kinh tế gia đ́nh (khá giả). Kết quả nghiên cứu của North Rebecca và cộng sự tiến hành năm 2008 cũng cho kết quả tương tự (11). Ở Việt Nam, có nhiều ư kiến cho rằng những gia đ́nh có t́nh trạng kinh tế tốt và cha mẹ có tŕnh độ học vấn cao có thể mang đến nhiều hỗ trợ cho con cái, làm tăng cảm nhận về hạnh phúc cho con họ.

Môi trường học tập cũng có liên quan đến các hành vi nguy cơ cũng như cảm nhận về hạnh phúc và hy vọng của đối tượng nghiên cứu. Năm học có mối liên quan đến sự trầm cảm của nam đối tượng, họ cảm thấy càng về các năm cuối, áp lực càng lớn. Trong khi sinh viên năm thứ 1 thường đối mặt với những thử thách đến từ yếu tố gia đ́nh và bạn bè, sự chuyển tiếp môi trường học tập từ phổ thông lên đại học, sự thích nghi với môi trường học tập mới th́ sinh viên các năm về sau đối mặt với những áp lực về thành tích học tập, các mối quan hệ, nghề nghiệp tương lai và kỳ vọng của cha mẹ. Cảm nhận về sự gắn kết giữa sinh viên với nhà trường có liên quan đến thành công của họ. Trong nghiên cứu này, sự gắn kết giữa nhà trường và sinh viên càng mạnh th́ càng làm giảm trầm cảm, giảm ư định tự tử và giảm lo âu đối với nữ đối tượng. Một nghiên cứu đoàn hệ được thực hiện tại Atlanta, USA trên thanh thiếu niên và một nghiên cứu được thực hiện gần đây ở Đài Loan cũng cho kết quả tương tự (4,8).

Có thể nói rằng thành tích học tập có tác động đáng kể đến t́nh trạng SKTT của sinh viên, đặc biệt là đối với nữ, nó gây ra nhiều áp lực hơn so với nam. Điều này cũng phù hợp với các đặc tính xă hội của sinh viên Việt Nam, thậm chí cũng đúng với bối cảnh xă hội các nước phương Tây (1,2,3,6,12).

Các mối quan hệ xă hội đóng vai tṛ khá quan trọng trong vấn đề SKTT, đặc biệt là đối với trầm cảm và lo âu (7,13). Sinh viên nữ đặc biệt chú ư đến diện mạo bên ngoài của ḿnh so với nam. Điều này cũng đóng góp vào mức độ lo âu của họ. Tự tin vào diện mạo bên ngoài giúp nữ sinh viên cảm thấy hạnh phúc hơn và có hy vọng hơn vào tương lai.

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy những bằng chứng đáng kể về tính phức tạp của những yếu tố đóng góp vào sự cải thiện t́nh trạng SKTT của đối tượng sinh viên, không những chỉ là những mối quan hệ gia đ́nh, thành tích học tập và chất lượng cuộc sống mà c̣n bao gồm cả cấu trúc gia đ́nh, sự gắn kết với nhà trường, sự thay đổi trong nhu cầu xă hội và môi trường học tập. Nghiên cứu cũng cho thấy tŕnh độ học vấn của cha, xung đột giữa cha mẹ và t́nh trạng kinh tế gia đ́nh có tác động mạnh mẽ đến mức độ trầm cảm, hy vọng và hạnh phúc của những nữ sinh viên. Kinh tế gia đ́nh và những hỗ trợ từ phía gia đ́nh tỉ lệ thuận với mức độ hạnh phúc. Tương tác tốt giữa đối tượng và các thành viên trong gia đ́nh có khả năng làm giảm nguy cơ trầm cảm, lo âu và các hành vi nguy cơ. Ngoài ra, kết quả từ nghiên cứu cũng cho thấy người mẹ đóng vai tṛ rất quan trọng trong việc chia sẻ cảm xúc với con cái.

Do hạn chế về mặt thời gian, nghiên cứu này chỉ dừng ở mức định hướng, cần có những nghiên cứu tiếp theo để làm sáng tỏ nguyên nhân, hậu quả và các giải pháp cho những vấn đề này thay v́ chỉ đơn giản là xác định nó. Yếu tố kinh tế gia đ́nh và môi trường học tập cũng cần được đo lường kỹ hơn, qua những câu hỏi chi tiết hơn để khám phá các tác động, cả tốt lẫn xấu, đến vấn đề SKTT trên đối tượng sinh viên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Anotnio Fernaldez, C. (2009) Selective Attention, Anxiety, Depressive Symptomatology And Academic Performance In Adolescents. Journal Of Research In Educational Psychology, 7, 49-76.

2.          Barriga, A. Q., Doran, J. W., Newell, S. B., Morrison, E. M., Barbetti, V. & Robbins, B. D. (2002) Relationships Between Problem Behaviors And Academic Achievement In Adolescents: The Unique Role Of Attention Problems. Journal Of Emotional And Behavioral Disorders, 10, 233-240.

3.          Burns, J. M., Andrews, G. & Szabo, M. (2002) Depression In Young People: What Causes It And Can We Prevent It? Medical Journal Of Australia, 177, S93-S96.

4.          Centers For Disease Control And Prevention (2009) School Connectedness: Strategies For Increasing Protective Factors Among Youth. Atlanta, Ga: U.S., Department Of Health And Human Services.

5.          Dyrbye, L. N., Thomas, M. R. & Shanafelt, T. D. (2005) Medical Student Distress: Causes, Consequences, And Proposed Solutions. Mayo Clin Proc, 80, 1613-1622.

6.          Haines, M. E., Norris, M. P. & Kashy, D. A. (1996) The Effects Of Depressed Mood On Academic Performance In College Students. Journal Of College Student Development, 37, 519-526.

7.          Lee, S. W., Stewart, S., Byrne, B. M., Wong, J. P. S., Lee, P. W. H. & Lam, T. H. (2008) Factor Structure Of The Center For Epidemiological Studies Depression Scale In Hong Kong Adolescents. Journal Of Personality Assessment, 90, 175-184.

8.          Lin, H.-C., Tang, T.-C., Yen, J.-Y., Ko, C.-H., Huang, C.-F., Liu, S.-C. & Yen, C.-F. (2008) Depression And Its Association With Self-Esteem, Family, Peer And School Factors In A Population Of 9586 Adolescents In Southern Taiwan. Psychiatry And Clinical Neurosciences   62, 412-420.

9.          Nguyen, T. H. (2006) Child Maltreatment In Vietnam: Prevalence And Associated Mental An Physical Health Problems. Brisbane, Queensland University Of Technology.

10.       Nguyen, T. H., Le, V. A. & Dunne, M. (2007) Vietnam Public Health Association Magazine. Ha Noi, Vietnam Public Health Association.

11.       North Rebecca, J., Holahan Charles, J., Moos Rudolf, H. & Cronkite Ruth, C. (2008) Family Support, Family Income, And Happiness: A 10-Year Perspective. Journal Of Family Psychology, 22, 475-483.

12.       Shiels, C., Gabbay, M. & Exley, D. (2007) Psychologican Distress In Students Registered At A University-Based General Practice. Primary Care And Community Psychiatry, 13, 9-18.

13.       Song, Y., Huang, Y., Liu, D., Kwan, J. S. H., Zhang, F., Sham, P. C. & Tang, S. W. (2008) Depression In College: Depressive Symptoms And Personality Factors In Beijing And Hong Kong College Freshmen. Compr Psychiatry, 49, 496-502.

14.       The Ministry Of Education And Training (2004) Higher Education In Vietnam - Update May 2004. Vietnam, Institute Of International Education.

15.       Trudy, H. & Tran, T. (2006) From Research Evidence To Policy: Mental Health Care In Viet Nam. Vietnam, World Health Organization.

16.       Tuan, T., Harpham, T. & Huong, N. (2004) Validity And Reliability Of The Self-Reporting Questionnaire 20 Items (Srq20) In Vietnam. Hongkong J Psychiatry, 14, 15-18.

17.       Tuan, T., Harpham, T., Huong, N. T., Silva, M., Huong, V. T. T., Long, T. T., Ha, N. T. V. & Dewitt, D. (2003) Measuring Social Capital And Mental Health In Vietnam: A Validity Study. Vietnam, Young Live Project.

18.       Vietnam General Office For Population Family Planning Population And Development. Vietnam, Vietnam General Office For Population
Family Planning, .

19.       Vietnam General Statistic Office (2009) Dân Số Và Mật Độ Dân Số Năm 2007 Phân Theo Địa Phương. Vietnam, Vietnam General Statistic Office,.


 


 



* Khoa Y tế Công cộng - Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh        **Đại học Công nghệ Queensland, Australia

Địa chỉ liên hệ: ThS. Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh              ĐT: 0909592426          Email: huynhhongocquynh@yahoo.com