Trương
Đ́nh Chính*,
Cao Ngọc Nga**, Nguyễn Đỗ Nguyên ***, Ngô Tích Linh****
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Điều dưỡng và nữ hộ sinh có nhiều nguy cơ bị rối loạn tâm thần do phải làm việc trong những điều kiện căng thẳng. Những nghiên cứu trước đây ở Việt Nam chưa khảo sát các yếu tố của môi trường làm việc và gia đ́nh xă hội liên quan với rối loạn tâm thần của nhân viên y tế. Cũng chưa có nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của điều dưỡng và nữ hộ sinh tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ mắc rối loạn tâm thần của điều dưỡng và nữ hộ sinh tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong năm 2009 và các yếu tố liên quan.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 382 điều dưỡng và nữ hộ sinh được chọn ngẫu nhiên hệ thống tại các cơ sở y tế công của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Dữ kiện được thu thập với những bộ câu hỏi tự điền. Tỉ lệ rối loạn tâm thần được mô tả chung và phân bố theo các đặc tính của mẫu nghiên cứu. Phân tích đa biến với hồi qui logistic được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan với rối loạn tâm thần.
Kết
quả: Tỷ lệ có rối loạn tâm thần
là 59% với khoảng tin cậy 95% là 54%-64%. Những yếu tố thuộc môi trường
làm việc có liên quan
đến khả năng mắc rối loạn tâm thần là làm việc tại các khoa nhiều
bệnh nhân hoặc/và bệnh nhân nặng,
công việc đ̣i hỏi quan sát hoặc lựa chọn chính xác,
công việc quá nặng nhọc, chịu sức ép nặng nề trong công
việc, và nguy cơ bị mất việc. Các yếu tố gia đ́nh và xă hội có liên quan với
khả năng mắc các rối loạn tâm thần là bất ḥa với hàng
xóm; có vấn đề liên quan dư luận, báo chí; và làm ăn thua lỗ; tuy nhiên, chưa có ư nghĩa thống kê, với các giá trị p xấp xỉ 0,05.
Kết
luận: Những đối tượng được xác định có rối loạn tâm thần cần được khám
lâm sàng và trắc nghiệm tâm lư phù hợp. Tăng cường các biện
pháp pḥng hộ lây nhiễm, luân chuyển công
tác định kỳ giữa các khoa, và cải
thiện môi trường làm việc có thể góp phần nâng cao sức khỏe tâm thần của điều dưỡng và nữ hộ sinh.
Từ
khoá: Rối loạn tâm thần, điều dưỡng nữ hộ sinh
ABSTRACT
MENTAL DISORDER AMONG NURSES AND
MIDWIVES
AT BA
Truong Dinh Chinh, Cao Ngoc Nga, Nguyen Do
Nguyen, Ngo Tich Linh
* Y Hoc TP.Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 101-108
Background
Nurses and midwives are at high risk of mental disorders due to their stressful
working conditions. Previous studies in
Objectives To determine the proportions and associated factors of having mental disorder among nurses and midwives at Ba Ria Vung Tau province in 2009.
Methods A cross-sectional study was conducted on 382 nurses and midwives in public sector health services of Ba Ria Vung Tau province. Subjects were selected by a systematic random sampling and data were collected by self-administered questionnaires. Proportions of having mental disorder were estimated overall and distributed by sample characteristics. Multivariate analysis with logistic regression was used to identify factors associated with having mental disorder.
Results
The proportion of having mental
disorder was 59% with a 95% confidence interval of 54%-64%. Working conditions associated with having
mental disorder were working at a department with many patients and/or severe
diseases, having a job required a precise observation or decision, too heavy
work load, high tension work, and at risk of losing a job. Conflicts with
neighbors, having troubles with press or rumors, and business losses had a
borderline significant association with having mental disorder.
Conclusions Further clinical examination and appropriate
psychological tests should be provided to subjects identified as mental
disordered in this study. Strengthening protective measures against infections,
periodic shifting of departments, and improving working conditions can play a
role in mental health promotion for nurses and midwives.
Keywords: Mental disorders, nurses and midwives
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, sức khỏe tâm thần đang
là một vấn đề bức thiết mà Tổ Chức
Y Tế Thế Giới quan tâm, với nhiều chương tŕnh và kế hoạch
hành động được tiến hành trên toàn cầu. Ở
Việt
Nhân viên y tế, trong đó có các điều dưỡng nữ hộ sinh, có những điều kiện lao động rất đặc thù, đó là trách nhiệm cao, thời gian lao động dài (trực 24/24 giờ, tua 3-4 ngày, trực 2 ca 3 kíp, hoặc 3 ca 4 kíp), làm việc vào cả những ngày nghỉ, ngày lễ, đối tượng phục vụ là những người bệnh, nguy cơ lây nhiễm (viêm gan B, viêm gan C, lao, tả, HIV/AIDS, v.v.), chế độ lương bổng chưa thỏa đáng, áp lực từ bệnh nhân, gia đ́nh bệnh nhân, và cả lănh đạo đơn vị. Trong bệnh viện, điều dưỡng và nữ hộ sinh là những người có thời gian tiếp xúc, trao đổi, chăm sóc bệnh nhân nhiều nhất. Với những điều kiện làm việc căng thẳng, sức khỏe tâm thần của điều dưỡng và nữ hộ sinh có thể bị ảnh hưởng, từ đó, ảnh hưởng đến thái độ tiếp xúc với bệnh nhân, và ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Đă có những nghiên cứu về rối loạn tâm thần ở công nhân làm việc trong các ngành nghề khác nhau. Tỷ lệ rối loạn tâm thần ở công nhân ngành gang thép là 20,6% (7), ở ngành may mặc là 11,7% (1), ở ngành giày da là 11,5% (8), ở ngành dầu khí là 68,9% (4), ở điều dưỡng trực tiếp phục vụ bệnh nhân tâm thần là 48,32% (6), và ở nhân viên y tế trực tiếp phục vụ bệnh nhân lao, bệnh phổi là 15,5% (9). Những nghiên cứu đó chưa khảo sát mối liên quan giữa đặc tính công việc của nhóm nghiên cứu với tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần. Riêng tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, chưa có nghiên cứu nào về sức khỏe tâm thần của điều dưỡng và nữ hộ sinh, là những người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích xác định tỷ lệ rối loạn sức khỏe tâm thần của điều dưỡng và nữ hộ sinh tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu năm 2009 và các yếu tố liên quan, trong đó có môi trường làm việc và môi trường gia đ́nh, xă hội. Đề cương nghiên cứu được thông qua bởi hội đồng khoa học của Khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, và cuả Sở Y tế Bà Rịa Vũng Tàu.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả với dân số mục tiêu là 825 điều dưỡng nữ hộ sinh làm việc tại các cơ sở y tế công của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, từ tháng Ba 2009 đến tháng Sáu 2009 năm 2009. Để có 95% tin tưởng xác định được tỷ lệ rối loạn tâm thần là 48,32% (6), với sai số cho phép là 5%, cỡ mẫu được ước lượng là 383. Mẫu được chọn với kỹ thuật ngẫu nhiên hệ thống. Tiêu chí đưa vào là đang làm việc tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập kể cả biên chế và hợp đồng, và đồng ư tham gia nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu bị loại nếu có thời gian làm việc dưới 6 tháng, có những vấn đề có thể ảnh hưởng gây sang chấn tâm lư (tang chế, ly hôn, kỷ luật, tranh chấp, v.v.) trong ṿng 6 tháng, vắng mặt dài hạn trong đợt khảo sát (nghỉ hậu sản, nghỉ ốm). Đối với những người đă được chọn trong danh sách, nhưng vắng mặt tại thời điểm khảo sát (nghỉ phép, nghỉ ốm, ra trực) th́ được hẹn 2 lần, nếu vẫn vắng mặt th́ loại khỏi mẫu nghiên cứu.
Dữ kiện được thu thập với
bộ câu hỏi tự điền để đánh giá rối
loạn tâm thần. Các bộ câu hỏi được sử
dụng là bản câu hỏi sức khỏe tổng quát
(đánh giá tâm căn suy nhược),
bản đánh giá chất lượng giấc ngủ
KẾT QUẢ
Bảng 1: Đặc tính của mẫu nghiên cứu, tần số và (%) (n=382)
|
|
Đặc tính |
Tần số (%) |
|
|
Giới tính nữ |
349 (91) |
|
Nhóm tuổi |
<25 |
56 (15) |
|
25 - <30 |
126 (33) |
|
|
30 - <35 |
65 (17) |
|
|
35 - <40 |
38 (10) |
|
|
40 - <45 |
51 (13) |
|
|
45 - <50 |
35 (9) |
|
|
≥ 50 |
11 (3) |
|
|
Chuyên môn |
Điều dưỡng |
296 (78) |
|
Nữ hộ sinh |
86 (22) |
|
|
T́nh trạng hôn nhân |
Độc thân |
116 (31) |
|
Có gia đ́nh |
252 (66) |
|
|
Ly thân/Ly hôn |
9 (2) |
|
|
Góa |
5 (1) |
|
|
Tŕnh độ chuyên môn |
Trung học |
367 (96) |
|
Cao đẳng |
10 (3) |
|
|
Đại học |
5 (1) |
|
|
Cơ quan công tác |
Bệnh viện tuyến
tỉnh |
244 (64) |
|
Bệnh viện tuyến
huyện |
80 (21) |
|
|
Bệnh viện huyện
không có giường bệnh |
25 (7) |
|
|
Y tế dự pḥng |
33 (8) |
|
|
Khoa pḥng |
|
|
|
Cấp cứu-Hồi
sức-Pḥng khám |
131 (34) |
|
|
Ngoại-Pḥng mổ |
29 (8) |
|
|
Sản-Kế hoạch
hóa gia đ́nh |
76 (17) |
|
|
Cơ quan công tác |
Nội-Nhi-Nhiễm |
82 (21) |
|
Khác |
76 (20) |
|
|
Chế độ làm
việc |
Hành chính |
121 (32) |
|
Trực 24/24 |
191 (50) |
|
|
Trực ca kíp |
70 (18) |
|
|
Thâm niên công tác |
< 5 năm |
155 (40) |
|
5 - <10 năm |
96 (25) |
|
|
10 - <15 năm |
30 (8) |
|
|
15 - <20 năm |
29 (8) |
|
|
≥ 20 năm |
72 (19) |
Bảng
2: Tỉ
lệ rối loạn tâm thần phân bố theo đặc
tính mẫu, tần số và (%) (n=382)
|
|
Đặc tính mẫu |
Có rối loạn tâm thần |
|
|
Chung |
224 (59) KTC 95% (54%-64%) |
|
Giới tính |
|
20 (61) |
|
Nữ |
204 (58) |
|
|
Nhóm tuổi |
<25 |
34 (61) |
|
25 - <30 |
80 (63) |
|
|
30 - <35 |
35 (54) |
|
|
35 - <40 |
23 (61) |
|
|
40 - <45 |
28 (55) |
|
|
45 - <50 |
17 (49) |
|
|
≥ 50 |
7 (64) |
|
|
Chuyên môn |
Điều dưỡng |
181 (61) |
|
Nữ hộ sinh |
43 (50) |
|
|
T́nh trạng hôn nhân |
Độc thân |
77 (65) |
|
Có gia đ́nh |
142 (57) |
|
|
Ly thân/Ly hôn |
3 (33) |
|
|
Góa |
2 (40) |
|
|
Tŕnh độ chuyên
môn |
Trung học |
217 (59) |
|
Cao đẳng |
6 (60) |
|
|
Đại học |
1 (20) |
|
|
Cơ quan công tác |
Bệnh viện tuyến
tỉnh |
149 (61) |
|
Bệnh viện tuyến
huyện |
49 (61) |
|
|
Bệnh viện huyện
không có giường bệnh |
13 (52) |
|
|
Y tế dự pḥng |
13 (39) |
|
|
Khoa pḥng |
|
|
|
Cấp cứu-Hồi
sức-Pḥng khám |
81 (62) |
|
|
Ngoại-Pḥng mổ |
20 (69) |
|
|
Sản-Kế hoạch
hóa gia đ́nh |
34 (54) |
|
|
Nội-Nhi-Nhiễm |
53 (65) |
|
|
Khác |
36 (47) |
|
|
Chế độ làm
việc |
Hành chính |
67 (55) |
|
Trực 24/24 |
113 (59) |
|
|
Trực ca kíp |
44 (63) |
|
|
Thâm niên công tác |
< 5 năm |
96 (62) |
|
5 - <10 năm |
54 (56) |
|
|
10 - <15 năm |
18 (60) |
|
|
15 - <20 năm |
17 (59) |
|
|
≥ 20 năm |
39 (54) |
Bảng 3: Các yếu
tố gây sang chấn tâm lư thuộc môi trường làm việc,
tần số và (%) (n=382)
|
Yếu tố |
Tần số (%) |
|
Công việc đ̣i hỏi
quan sát hoặc lựa chọn chính xác |
311 (81) |
|
Công việc có khả
năng lây nhiễm |
298 (78) |
|
Lương không thỏa
đáng |
228 (60) |
|
Công việc đơn
điệu hoặc lặp đi lặp lại |
206 (54) |
|
Công việc gây căng
thẳng tâm lư |
194 (51) |
|
Nguy cơ bị tai nạn
trong công việc |
189 (50) |
|
Phương tiện
phục vụ công việc thiếu thốn |
167 (44) |
|
Cấp trên cư xử
nghiêm khắc với nhân viên |
147 (39) |
|
Môi trường làm việc
không dễ chịu |
145 (38) |
|
Chịu sức ép nặng
nề trong công việc |
138 (36) |
Bảng 4: Các yếu
tố gây sang chấn tâm lư thuộc môi trường gia
đ́nh và xă hội, tần số và (%) (n=382)
|
Yếu tố |
Tần số (%) |
|
Kinh tế khó khăn |
270 (71) |
|
Khó khăn về nhà ở |
214 (56) |
|
Người thân trong
gia đ́nh bị bệnh măn tính/nan y |
82 (22) |
|
Khu vực sinh sống
không an toàn |
75 (20) |
|
Người thân trong
gia đ́nh thường xuyên dùng rượu |
70 (18) |
|
Tệ nạn xă hội
ảnh hưởng môi trường sống |
53 (14) |
|
Người thân chết
|
50 (13) |
|
Không hài ḷng về con
cái |
35 (9) |
|
Quan hệ vợ chồng
không ḥa thuận |
29 (8) |
|
Làm ăn thua lỗ |
23 (6) |
Bảng 5: Các yếu
tố liên quan với có khả năng mắc rối loạn
tâm thần (n=367)
|
Yếu tố |
OR điều chỉnh * (KTC 95%) |
p |
|
Cơ quan |
|
|
|
Y tế dự pḥng |
1 |
|
|
Bệnh viện huyện
có giường bệnh |
1,2 (0,4-3,6) |
0,78 |
|
Bệnh viện huyện
không có giường bệnh |
0,9 (0,2-3,2) |
0,85 |
|
Bệnh viện tỉnh |
1,2 (0,4-3,5) |
0,67 |
|
Khoa pḥng công tác |
|
|
|
Khoa khác |
1 |
|
|
Hồi sức cấp
cứu pḥng khám |
2,9 (1,3-6,4) |
0,01 |
|
Khoa ngoại pḥng mổ |
4,9 (1,6-15,1) |
<0,01 |
|
Khoa Nội Nhi Nhiễm |
3,1 (1,3-7,0) |
<0,01 |
|
Khoa sản phụ - kế
hoạch hóa gia đ́nh |
1,3 (0,6-3,2) |
0,50 |
|
Chế độ làm
việc |
|
|
|
Hành chánh |
1 |
|
|
Trực 24/24 |
0,8 (0,4-1,6) |
0,57 |
|
Trực ca kíp |
1,0 (0,4-2,3) |
0,91 |
|
Thâm niên công tác |
|
|
|
< 5 năm |
1 |
|
|
Từ 5-10 năm |
0,9 (0,4-1,9) |
0,84 |
|
Từ 10-15 năm |
1,6 (0,5-4,9) |
0,41 |
|
Từ 15-20 năm |
1,6 (0,5-5,0) |
0,45 |
|
≥ 20 năm |
1,1 (0,3-3,4) |
0,92 |
|
Nhóm tuổi |
|
|
|
<25 tuổi
|
1 |
|
|
25 - <30 tuổi |
1,4 (0,6-3,0) |
0,46 |
|
30 - <35 tuổi |
1,3 (0,5-4,0) |
0,60 |
|
35 - <40 tuổi |
2,0 (0,6-6,8) |
0,29 |
|
40 - <45 tuổi |
1,5 (0,4-5,5) |
0,58 |
|
45 - <50 tuổi |
1,0 (0,2-4,2) |
0,95 |
|
≥ 50 tuổi |
3,5 (0,4-28) |
0,25 |
|
T́nh trạng hôn nhân |
|
|
|
Có gia đ́nh |
1 |
|
|
Độc thân |
1,5 (0,8-2,8) |
0,21 |
|
Ly thân/Ly hôn |
0,3 (0,0-1,6) |
0,15 |
|
Công việc đ̣i hỏi
quan sát hoặc lựa chọn chính xác |
2,0 (1,1-3,8) |
0,02 |
|
Công việc quá nặng
nhọc |
2,1 (1,0-4,1) |
0,04 |
|
Cấp trên cư xử
nghiêm khắc với nhân viên |
0,6 (0,3-1,1) |
0,09 |
|
Chịu sức ép nặng
nề trong công việc |
3,6 (1,9-6,6) |
<0,001 |
|
Mâu thuẫn với cấp
trên |
0,4 (0,1-1,1) |
0,08 |
|
Nơi làm việc không
an toàn |
0,3 (0,2-0,6) |
<0,001 |
|
Nguy cơ bị mất
việc |
3,5 (1,5-8,1) |
<0,01 |
|
Bất ḥa với hàng
xóm |
4,2 (0,9-20) |
0,07 |
|
Có vấn đề
liên quan dư luận, báo chí |
13 (0,9-180) |
0,059 |
|
Làm ăn thua lỗ |
3,2 (0,9-12) |
0,08 |
* Điều chỉnh theo giới, nhóm tuổi, t́nh trạng hôn nhân, tŕnh độ học vấn, và nơi cư trú.
Cỡ mẫu thật của nghiên cứu là 382 đối tượng. Hơn 90% người được khảo sát là nữ, gần 50% trong lứa tuổi <30, khoảng 2/3 có gia đ́nh, và 96% có tŕnh độ trung cấp (Bảng 1); 78% là điều dưỡng, khoảng 2/3 làm việc ở các bệnh viện tuyến tỉnh, 80% làm việc ở các khoa pḥng đông bệnh nhân và có nhiều bệnh nhân nặng (như khoa hồi sức cấp cứu pḥng khám, khoa ngoại pḥng mổ, khoa sản kế hoạch hóa gia đ́nh và khoa nội nhi nhiễm), hơn 2/3 phải tham gia trực (trực 24/24 giờ hoặc trực ca kíp), 65% có thâm niên công tác dưới 10 năm.
Tỷ lệ có khả năng mắc rối loạn tâm thần của điều dưỡng nữ hộ sinh là 59% với KTC 95% (54% - 64%) (Bảng 2). Tỉ lệ rối loạn tâm thần tương đương ở nam và nữ, các nhóm tuổi, điều dưỡng và nữ hộ sinh, cơ quan công tác, chế độ làm việc, và thâm niên công tác. Tỉ lệ này là thấp ở nhóm ly thân ly hôn và goá, tŕnh độ đại học; và trội ở nhóm làm việc tại các khoa cấp cứu hồi sức, pḥng khám, ngoại,pḥng mổ, sản,kế hoạch hóa gia đ́nh, nội nhi nhiễm.
Các điều kiện công việc có ảnh hưởng nhiều nhất tới sang chấn tâm lư được ghi nhận theo thứ tự là công việc đ̣i hỏi quan sát hoặc lựa chọn chính xác, có khả năng lây nhiễm, lương không thỏa đáng, công việc đơn điệu hoặc lặp đi lặp lại, công việc gây căng thẳng tâm lư, nguy cơ bị tai nạn trong công việc (Bảng 3). Các yếu tố gia đ́nh xă hội có ảnh hưởng tới sang chấn tâm lư được ghi nhận nhiều nhất là kinh tế khó khăn, khó khăn về nhà ở (Bảng 4).
Sau khi khử các biến số gây nhiễu, kết
quả cho thấy những yếu tố thuộc môi
trường làm việc có liên quan đến khả năng mắc rối loạn
tâm thần là làm việc tại khoa ngoại và pḥng mỗ;
khoa nội nhi nhiễm; và hồi sức cấp cứu và
pḥng khám (Bảng 5); công việc đ̣i hỏi quan sát hoặc
lựa chọn chính xác, công việc quá nặng nhọc, chịu
sức ép nặng nề trong công việc, nguy cơ bị mất việc.
Tuy nhiên, hai yếu tố cấp trên cư xử nghiêm khắc với nhân viên và mâu thuẫn
với cấp trên lại giảm khả năng mắc các rối loạn
tâm thần, dù không có ư nghĩa
thống kê, với giá trị p là 0,09 và 0,08, tương ứng. Yếu tố
nơi làm việc
không an toàn lại có tác dụng bảo vệ với mắc
rối loạn tâm thần. Các yếu tố gia đ́nh và xă
hội có liên quan với khả năng mắc các rối loạn tâm thần là bất
ḥa với hàng xóm; có vấn đề liên quan dư luận, báo chí; và làm
ăn thua lỗ; tuy
nhiên, chưa có ư nghĩa thống kê, với các
giá trị p tương ứng
là 0,07; 0,059; và 0,08.
BÀN LUẬN
Đa số đối tượng nghiên cứu là nữ, tŕnh độ trung cấp, 3/4 là điều dưỡng. Đây là đặc tính chung của điều dưỡng và nữ hộ sinh ở các đơn vị y tế công tuyến tỉnh và huyện, mẫu nghiên cứu, do đó, có tính đại diện cho dân số. Khoảng 2/3 người được khảo sát dưới 30 tuổi, công tác ở bệnh viện tuyến tỉnh, làm việc ở các khoa đông bệnh nhân và/hoặc nhiều bệnh nhân nặng, tham gia thường trực, có thâm niên công tác dưới 10 năm và đă lập gia đ́nh. Các yếu tố này góp phần ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc rối loạn tâm thần.
Tỷ lệ mắc rối loạn tâm thần của điều dưỡng và nữ hộ sinh Bà Rịa Vũng Tàu
Để xác định mắc rối loạn tâm thần cần phải dựa trên chẩn đoán lâm sàng (hỏi bệnh sử, tiền sử bản thân, tiền sử gia đ́nh, thói quen sinh hoạt, lối sống, thăm khám bệnh nhân), và kết quả thực hiện các trắc nghiệm tâm lư, được thực hiện bởi các bác sỹ chuyên ngành tâm thần. Trong nghiên cứu này tỷ lệ rối loạn tâm thần cuả điều dưỡng và nữ hộ sinh tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu là 59%. Tỷ lệ này là khá cao, có thể do nghiên cứu chỉ dựa trên việc trả lời các thang điểm đă được chuẩn hóa, được sử dụng trong chuyên ngành tâm thần. Ngoài ra, c̣n do hạn chế của việc sử dụng thang đánh giá trầm cảm Beck (cho phép chọn một hoặc nhiều đáp án mang tính định tính, khoảng thời gian xem xét không phải một ngày mà cả trong tuần lễ vừa qua, những câu hỏi mang tính chuyên sâu cũng có thể ảnh hưởng đến việc trả lời thiếu thống nhất và chưa sát thực tế), và phương pháp phỏng vấn (hướng dẫn tập thể, trả lời trên bộ câu hỏi tự điền chứ không phải phỏng vấn trực tiếp, thiếu tư vấn tâm lư kỹ bởi những người có kinh nghiệm trong chuyên ngành tâm thần).
Tỷ lệ mắc rối
loạn tâm thần của điều dưỡng và nữ
hộ sinh tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cao hơn
tỷ lệ mắc rối
loạn tâm thần của công nhân các ngành giày da, may mặc,
luyện kim; cũng cao hơn tỷ lệ mắc các
rối loạn tâm thần của nhân viên y tế làm việc
tại bệnh viện chuyên khoa lao và nhân viên y tế làm việc tại
bệnh viện chuyên khoa tâm thần (1,7,9,8). Điều
này, cho thấy không chỉ sự nặng nhọc, căng thẳng trong tính chất
công việc của điều dưỡng-nữ hộ
sinh (thức cả đêm trực, đứng mổ cả
6-8 giờ liên tục, sự sơ suất có thể gây chết người,
v.v.), mà c̣n cho thấy sự thiệt tḥi trong môi trường
làm việc của điều dưỡng và nữ hộ
sinh tỉnh Bà Rịa Vũng
Tàu (trực nhật thường xuyên, nguy cơ lây nhiễm bệnh tật,
thường xuyên tiếp xúc người bệnh với cảm
xúc âm tính như chết
chóc, tuyệt vọng). Tuy nhiên tỷ lệ mắc rối
loạn tâm thần của điều dưỡng và nữ
hộ sinh tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thấp hơn tỷ lệ tương ứng của công nhân ngành dầu khí làm việc
ngoài biển (4). Lư do của sự khác biệt
trên, có thể ngoài tính chất nặng nhọc, căng thẳng, thiệt tḥi
trong công việc, nhân viên ngành dầu khí c̣n chịu đựng
một sự thiệt tḥi lớn, đó là phải chịu
đựng “hội chứng người chồng gián
đoạn”, một thuật ngữ quen dùng trong các ngành nghề
kinh tế biển. Sự thiếu quân b́nh trong cuộc sống
gia đ́nh phần nào ảnh hưởng tới sức khỏe
tâm thần(5).
Tỉ lệ rối loạn tâm thần là thấp ở nhóm ly thân ly hôn và goá, tŕnh độ đại học, có thể do mẫu cuả các tiểu nhóm là nhỏ. Tỉ lệ này là cao ở nhóm làm việc tại các khoa cấp cứu hồi sức, pḥng khám, ngoại, pḥng mổ, sản, kế hoạch hóa gia đ́nh, nội, nhi, và nhiễm. Đây là những khoa có đông bệnh nhân hoặc/và có nhiều bệnh nhân nặng, nên khối lượng công việc là nhiều và áp lực công việc cũng cao, do đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần. Biến số khoa pḥng làm việc có liên quan có ư nghĩa thống kê với mắc rối loạn tâm thần trong phân tích đa biến.
Những yếu tố liên quan với mắc rối loạn tâm thần ở điều dưỡng và nữ hộ sinh Bà Rịa Vũng Tàu
Những yếu tố thuộc môi trường làm việc có liên quan đến khả năng mắc rối loạn tâm thần là làm việc tại khoa ngoại và pḥng mỗ; khoa nội nhi nhiễm; hồi sức cấp cứu và pḥng khám; công việc đ̣i hỏi quan sát hoặc lựa chọn chính xác, công việc quá nặng nhọc, chịu sức ép nặng nề trong công việc, nguy cơ bị mất việc.
Khoa hồi sức cấp cứu pḥng khám, khoa ngoại pḥng mổ, khoa nội nhi nhiễm trong bệnh viện là những khoa phải tiếp xúc nhiều bệnh nhân nhất trong ngày. Nhiều bệnh nhân vào viện trong t́nh trạng hấp hối, tai nạn, tự tử mà sự đáp ứng của nhân viên y tế phải thường xuyên, nhanh nhẹn và chính xác. Không những thế điều dưỡng và nữ hộ sinh phải luôn giữ thái độ niềm nở, dịu dàng trước hàng trăm bệnh đang chờ thăm khám, trước hàng chục bệnh nặng đang chờ chăm sóc, người nào việc nấy, không c̣n thời gian, không c̣n ai để chia xẻ. Sự quá tải của hầu hết các bệnh viện hiện nay góp phần làm nặng nề hơn cho công tác điều dưỡng và nữ hộ sinh, góp phần làm tăng khả năng mắc rối lọan tâm thần của điều dưỡng-nữ hộ sinh.
Các yếu tố đặc thù trong công việc của nhân viên y tế (phải lựa chọn chính xác, quá nặng nhọc, chịu sức ép nặng nề, nơi làm việc không an toàn, nguy cơ bị mất việc) tạo nên không chỉ môi trường làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, mà c̣n tạo tâm lư căng thẳng trong khi làm việc. Sự tích tụ những cảm xúc tiêu cực từ ngày này qua ngày khác có thể dẫn đến khả năng mắc rối loạn tâm thần. Điều này cho thấy sự quan trọng của công tác tư vấn tâm lư nghề nghiệp, những hoạt động ngoại khóa, những sinh hoạt giao lưu trong môi trường bệnh viện, sẽ có tác dụng giải tỏa ức chế và tháo gỡ căng thẳng. Hai yếu tố cấp trên cư xử nghiêm khắc với nhân viên và mâu thuẫn với cấp trên lại giảm khả năng mắc các rối loạn tâm thần, dù không có ư nghĩa thống kê, với giá trị p là 0,09 và 0,08, tương ứng. Mối liên quan nghịch này có thể được giải thích do sai lệch thông tin. Cho dù sử dụng bộ câu hỏi tự điền và khuyết danh, việc khai báo có mâu thuẩn với cấp trên hoặc bị cấp trên đối xử nghiêm khắc là tế nhị. Những người có vấn đề sức khỏe tâm thần, nếu do hai nguyên nhân vừa nêu và nếu sợ bị mất việc, sẽ có khuynh hướng trả lời không với hai câu hỏi có mâu thuẩn với cấp trên hoặc bị cấp trên đối xử nghiêm khắc, và hậu quả là làm giảm mức độ kết hợp. Sai lệch thông tin cũng có thể là nguyên nhân của mối liên hệ nghịch giữa cảm nhận nơi làm việc không an toàn với mắc rối loạn tâm thần. Câu hỏi “Nơi làm việc không an toàn” là rất mơ hồ, và quan trọng hơn cả, là một câu hỏi phủ định. Khả năng sai lệch thông tin là rất lớn với những người chọn đáp án “Có” trong ngữ cảnh của tiếng Việt.
Mối liên quan thuận giữa rối loạn tâm thần với các yếu tố bất ḥa với hàng xóm; có vấn đề liên quan dư luận, báo chí; và làm ăn thua lỗ là phù hợp. Ư nghĩa thống kê chưa ghi nhận được là do ảnh hưởng của cỡ mẫu nhỏ, với các khoảng tin cậy của OR là rất rộng.
Những điểm mạnh và hạn chế của đề tài
Mẫu nghiên cứu có tính đại diện
và đủ lớn để ước lượng tỉ
lệ rối loạn tâm thần của dân số nghiên cứu.
Tuy nhiên, tỉ lệ rối loạn tâm thần có thể bị
ước lượng trội với bộ câu hỏi phỏng
vấn. Cỡ mẫu nghiên cứu có thể chưa đủ
lớn để xác định các yếu tố liên quan với
mắc rối loạn tâm thần. Sai lệch thông tin có thể
xảy ra với những bộ câu hỏi dài, và đặc
biệt với câu hỏi tế nhị như mâu thuẩn
với cấp trên, bị cấp trên đối xử
nghiêm khắc, và với câu hỏi phủ định
nơi làm việc không an toàn. Nghiên cứu cắt ngang hạn chế khả năng suy diễn nhân quả.
Tỷ lệ
rối loạn tâm thần ở điều dưỡng và
nữ hộ sinh là khá cao, tuy nhiên, chỉ mới được
ghi nhận qua phỏng vấn, do đó, những đối
tượng đă được ghi nhận có rối loạn
tâm thần cần được xác định lại với
khám lâm sàng và các trắc nghiệm tâm lư thích hợp. Để
nâng cao sức khỏe tâm thần của điều dưỡng
và nữ hộ sinh tại Bà Rịa Vũng Tàu, cần tăng cường những biện
pháp pḥng hộ lây nhiễm, cải thiện môi trường
làm việc (nơi làm việc, nơi nghỉ
ngơi, trang thiết bị
phục vụ chuyên môn) để giúp nhân viên y tế bớt
sai sót, bớt căng thẳng, lo âu. Về lâu dài, cần nghiên cứu việc
luân chuyển công tác định kỳ đối với
điều dưỡng và nữ hộ sinh làm việc ở
các khoa đông bệnh nhân, nhiều bệnh nặng sang những
khoa ít bệnh nhân và bệnh nhẹ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Lă Thị Bưởi và cs (2006). Nghiên cứu sức khỏe tâm thần và các stress ở công nhân ngành may mặc. Y học Việt Nam, (số 4) tr 12-18.
2.
Leppamaki
S., Meesters Y., Haukka J.,
Lonnqvist J.,
Partonen T. (2003). Effect of simulated down on
quality of sleep – a community based trial (2003). www.pubmedcentral.nih.gov
3. Lương Hữu Thông (2005). Sức khỏe tâm thần - Các rối loạn tâm thần thường gặp. Nhà xuất bản Lao động.
4. Nguyễn Văn Thọ, Đỗ Minh Tiến (2007). Nghiên cứu mối liên quan giữa điều kiện làm việc ngoài biển với vấn đề sức khỏe tâm thần của công nhân xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro. Báo cáo tại Hội nghị Khoa học kỹ thuật ngành y tế tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ngày 26/5/2008.
5. Trần Đ́nh Xiêm, Đào Trần Thái (2005). Tâm thần học. Đại học Y Dược TP. HCM. Nhà xuất bản Y học.
6.
Trần Văn Cường, Vương Văn Tịnh và cs (1999). Nghiên cứu thực trạng sức khỏe tâm thần của các nhân viên điều dưỡng phục vụ trực tiếp trong ngành tâm thần. Nội san số đặc biệt chào mừng 40 năm ngày
thành lập Bệnh viện tâm thần trung ương I.
7.
Trần Viết Nghị, Lă Thị Bưởi (2005). Nghiên cứu sức khoẻ tâm thần của công nhân gang thép Thái Nguyên. Y học Việt Nam
(số
11) tr 22-30.
8.
Trần Viết Nghị, Lă Thị Bưởi và cs (2006). Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ lâm sàng rối loạn tâm thần trên các đối tượng làm việc tại một số công ty giày da ở Hà Nội và Biên Ḥa. Y học dự pḥng tập 16 (số 2) tr 16-19.
9.
Trần Viết Nghị, Lă Thị Bưởi, Đinh Đăng Hoè (2006). Đặc điểm dịch tễ lâm sàng sức khỏe tâm thần ở nhân viên y tế ngành lao. Y học dự pḥng, tập 16 (số 2) tr 49-52.
* Sở Y tế tỉnh Bà Rịa
–Vũng Tàu **
Bộ môn Nhiễm, khoa Y - Đại học Y Dược
Tp. Hồ Chí Minh
***
Bộ môn Dịch tễ, khoa Y tế Công cộng - Đại
học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh
**** Bộ môn Tâm thần, khoa Y -
Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên hệ: BS Trương Đ́nh Chính ĐT: (064)3852652 Email: nvybrvt@yahoo.com