RỐI LOẠN CƠ XƯƠNG NGHỀ NGHIỆP Ở CÔNG NHÂN
NGÀNH MAY CÔNG NGHIỆP
 

Trịnh Hồng Lân* và cộng sự*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Rối loạn cơ xương nghề nghiệp (RLCXNN) là một bệnh rất phổ biến và có xu hướng ngày càng gia tăng. Bệnh thường xuất hiện ở những người lao động phải làm việc thủ công nặng nhọc, tư thế lao động không hợp lư (Tư thế qú, bẻ gập lưng...). Công nhân Ngành may công nghiệp Việt Nam hiện nay cũng thường phải làm việc với những điều kiện như vậy. Những điều này đă ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe người lao động, và thậm chí có thể gây ra bệnh RLCX nghề nghiệp cho người lao động. Việc nghiên cứu t́m ra những yếu tố có liên quan gây ra RLCXNN và qua đó đưa ra các giải pháp pḥng chống RLCX cho người lao động là hết sức cần thiết.  

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ công nhân ngành may công nghiệp bị RLCXNN và các yếu tố liên quan tại một số doanh nghiệp may thuộc các tỉnh thành phía Nam.

Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện bằng cách điều tra phỏng vấn các công nhân ngành may công nghiệp.

Kết quả: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đă cho thấy: Công nhân may đa số là công nhân trẻ với 89% là lao động nữ. Tỉ lệ công nhân bị RLCX nghề nghiệp là 83% trong đó đau thắt lưng chiếm tỉ lệ cao nhất là 54,3% .  Có mối liên quan giữa RLCX với tư thế lao động và tính chất công việc, với p = 0,004 và p <0,001.

Kiến nghị: Công ty nên tổ chức các  khoảng nghỉ ngắn (5 – 10 phút) giữa các ca lao động; công ty nên tổ chức cho công nhân tập thể dục giữa giờ; tạo điều kiện cho công nhân được thao tác công viêc với các tư thế hợp lư hơn bằng cách hạn chế các tư thế lao động không tự nhiên.

Từ khóa: rối loạn cơ xương nghề nghiệp, công nhân ngành may công nghiệp

ABSTRACT

OCCUPATIONAL MUSCULOSKELETAL  DISORDERS OF WORKERS AT GARMENT INDUSTRY IN THE SOUTHERN PROVINCES OF VIETNAM

Trinh Hong Lan and el al * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 222 - 225

Background: Occupational musculoskeletal disorders is a very popular status of individuals and increasing more now in the world. The ILO and WHO have identified musculoskeletal disorders as one of the typical work-related diseases. This work-related diseases often appear at workers who have to work hard, to have unseasonable working posture (the bending forward posture, squatting posture, much static work posture...).  Vietnam garment workers often have to do with conditions like this.  This has affected their health, and even to be under Occupational musculoskeletal disorders. Therefore, it’s essential to research for factors causing musculoskeletal disorders and find out solutions for musculoskeletal disorders prevention.

Objectives: Determine the prevalence of worker with stress and related factors at garment companies in the Southern provinces of Vietnam.

Materials and Method: A descriptive cross-sectional study. Data were collected through interviews using structured questionnaire.

Results: The results showed that: almost all workers are young and 89% of them are women. The prevalence of Occupational musculoskeletal disorders of subjects was 83%, among them the prevalence of low back pain of subjects was the most (54.3%). The relationship between regular musculoskeletal disorders and potential factors include: Working posture, nature of the work (with p = 0.004 and p <0.001).

Conclusion: The prevalence of Occupational musculoskeletal disorders of  garment workers is rather high. To solve this, garment companies should plan appropriate such as: to rearrange the time of operation and short break/rest (5 – 10 min); making opportunities physical exercise at the middle of  the work-shifts. To help workers handle objects with proper posture by limiting unnatural working postures.

Keywords: Occupational musculoskeletal disorders, workers at garment industry


ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn cơ xương là một biểu hiện của tác hại nghề nghiệp gặp khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới và là một trong những vấn đề sức khỏe thường gặp nhất ở người lao động ở trong hầu hết các ngành nghề hiện nay. Rối loạn cơ xương nghề nghiệp trong những năm gần đây đă được Tổ chức Lao động Thế giới và Tổ chức Y tế Thế giới coi là một trong các bệnh có liên quan tới công việc và đă được coi như một “Bệnh dịch mới – new epidemic” cần tập chung nghiên cứu giải quyết.(2)

Rối loạn cơ xương nghề nghiệp được ghi nhận như là một nguyên nhân hàng đầu của các vấn đề đau đớn đáng kể của con người, gây suy giảm năng suất lao động và là một gánh nặng kinh tế lớn của xă hội. Khá nhiều các số liệu thống kê đă cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề rối loạn cơ xương có liên quan tới
nghề nghiệp.   

Theo một số công tŕnh nghiên cứu th́ RLCX thường gặp ở những ngành nghề đ̣i hỏi người lao động phải ngồi hay đứng liên tục trong nhiều giờ, hay những ngành làm việc theo dây chuyền nói chung. Ảnh hưởng của RLCX hiếm khi gây ra các trường hợp tai nạn lao động nặng hay tử vong, nhưng nó làm cho người lao động phải chịu đựng sự đau mỏi nhiều, đặc biệt là ở vùng lưng, cổ, vai, cột sống, cổ tay, bàn tay. Bên cạnh đó chi phí dành cho điều trị bệnh RLCX là rất lớn và cần thời gian điều trị lâu dài. Chỉ ở một bang Ontario của Canada trong năm 1987 có tới 20.000 công nhân mới mắc bệnh đă được nhận tiền bồi thường do RLCX và có tới 600.000 ngày công đă bị mất do RLCX. Hay ở British Columbia, có tới hơn 50% các vấn đề về sức khoẻ của người lao động là do RLCX.(1)

Việc nghiên cứu t́m ra những yếu tố có liên quan gây RLCXNN và qua đó đưa ra các giải pháp pḥng chống cho người lao động ngành may công nghiệp là hết sức cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho người lao động.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chung

Xác định tỉ lệ công nhân ngành may công nghiệp bị RLCX nghề nghiệp và các yếu tố liên quan tại một số doanh nghiệp may thuộc các tỉnh thành phía Nam.

Mục tiêu cụ thể

- Xác định tỉ lệ công nhân may bị RLCX
nghề nghiệp.

- Xác định các yếu tố liên quan gây ra
RLCX NN.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả

Địa điểm nghiên cứu: Tại 3 Công ty thuộc 3 tỉnh: Đồng Nai, B́nh Dương và Tp. HCM

Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2007 - 2008

Đối tượng nghiên cứu: Tất cả công nhân trực tiếp và gián tiếp tại các phân xưởng may công nghiệp, có tuổi nghề ≥ 1 năm.

Kỹ thuật chọn mẫu: Lấy mẫu toàn bộ 3 phân xưởng may công nghiệp tại 3 công ty may (mỗi công ty chọn toàn bộ 1 phân xưởng) với n = 1.009 công nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành bằng cách phỏng vấn người lao động các phân xưởng may công nghiệp theo bộ câu hỏi soạn sẵn.

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Đặc tính mẫu nghiên cứu

Kết quả điều tra khảo sát cho thấy công nhân may công nghiệp có độ tuổi khá trẻ. Số công nhân có độ tuổi dưới 35 chiếm tới 65%, trong đó riêng độ tuổi ≤25 tuổi chiếm 30%. Về thâm niên công tác, có tới 83% công nhân có thâm niên công tác trong ngành may công nghiệp ≤15 năm, trong đó có tới 39% công nhân có tuổi nghề từ
1 – 5 năm.

Về giới tính th́ có tới 89% là lao động nữ. Những kết quả này hoàn toàn phù hợp với thực tế đặc điểm của ngành may công nghiệp đó là đ̣i hỏi công nhân có độ tuổi c̣n trẻ, công việc phù hợp với lao động nữ. Các kết quả nghiên cứu này cũng tương tự với các kết quả điều tra nghiên cứu của Nguyễn Đ́nh Dũng và CS.(4,5)

T́nh trạng RLCX nghề nghiệp

Bảng 1: Tỉ lệ công nhân bị RLCXNN (n = 1.009)

 

Tần số

Tỉ lệ (%)

Có bị RLCX

841

83

Không bị RLCX

168

17

Tổng cộng

1009

100

Kết quả bảng 1 cho thấy tỉ lệ công nhân có đau mỏi cơ xương khớp (RLCX) ở các vị trí khác nhau là rất cao (83%). Trong đó, công nhân trực tiếp làm việc trong dây tryền may có tỉ lệ RLCX cao hơn bộ phận cán bộ quản lư, phục vụ (gián tiếp) bên ngoài dây truyền may (86% và 73%). Điều này cũng là hợp lư v́ trên thực tế người công nhân may công nghiệp phải duy tŕ tư thế lao động g̣ bó và tĩnh tại liên tục suốt ca lao động. Kết quả khảo sát này cũng tương đương với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đ́nh Dũng và Nguyễn Thu Hà khi điều tra khảo sát về rối loạn cơ xương ở nông nhân may công nghiệp ở một số tỉnh thành phía Bắc.(4,5) 

Bảng 2: Tỷ lệ từng vị trí bị RLCX (n = 1.009)

Vị trí

Đầu ca

Cuối ca

p-value

N

%

n

%

Cổ

123

12

425

42,2

<0,001

Vai trái

85

8,4

355

35,2

<0,001

Vai phải

84

8,3

327

32,4

<0,001

Cánh tay trái

35

3,5

84

8,3

<0,001

Cánh tay phải

28

2,8

85

8,4

<0,001

Cổ tay trái

21

2,1

107

10,6

<0,001

Cổ tay phải

19

1,9

75

7,4

<0,001

Lưng

33

3,3

98

9,7

<0,001

Thắt lưng

91

9,0

548

54,3

<0,001

Mông

34

3,4

113

11,2

<0,001

Cẳng chân trái

48

4,8

203

20,1

<0,001

Cẳng chânphải

49

4,9

203

20,1

<0,001

Bàn chân trái

37

3,7

153

15,2

<0,001

Bàn chân phải

42

4,2

179

17,7

<0,001

Kết quả bảng 2 cho thấy tỉ lệ công nhân may công nghiệp có biểu hiện đau mỏi cơ xương khớp ở rất nhiều vị trí khác nhau, trong đó vùng thắt lưng có tỉ lệ đau mỏi cao nhất (54,3%); tiếp đến là các vùng cổ và hai bả vai (với tỉ lệ lần lượt là 42,2; 35,2 và 32,4%). Tỉ lệ đau mỏi này trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bạch Ngọc và Nguyễn Thu Hà,1998 (tư thế lao động bất hợp lư đă dẫn tới hiện tượng đau mỏi cơ xương sau ca lao động là đau mỏi vùng gáy 74,2%; vùng đai vai 68%; thắt lưng 79%.(3) Tuy vậy tỉ lệ đau thắt lưng ở công nhân may trong nghiên cứu này lại tương đương kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đ́nh Dũng (2000).(4)

Một số yếu tố liên quan trong công việc thường gây stress

Bảng 3: Mối liên quan giữa rối loạn cơ xương nghề nghiệp với tư thế lao động (n = 1009)

Tư thế lao động

RLCX nghề nghiệp

Tần số (Tỷ lệ)

p-value

OR

 (KTC 95)

RLCX

Không RLCX

Đứng

138 (83)

28 (17)

 

1

Ngồi

602 (86)

95 (14)

0,285

1,29

(0,81 – 2,04)

Luôn thay đổi

101 (69)

45 (31)

0,004

0,46

(0,27 – 0,78)

Kết quả bảng 3 cho thấy có sự liên quan khá rơ giữa tỉ lệ RLCX và tư thế lao động. Tỉ lệ RLCX ở công nhân may làm việc ở tư thế luôn thay đổi thấp hơn nhiều so với những người phải duy tŕ liên tục tư thế lao động đứng và ngồi. Sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê
(p = 0,004).

Bảng 4: Mối liên quan giữa RLCXNN với tính chất công việc (n = 1009)

Tính chất công việc

RLCX nghề nghiệp

(Tần số/Tỷ lệ)

p-value

OR

 (KTC 95)

RLCX

Không RLCX

Đơn điệu - liên tục

524 (89)

68 (11)

<0,001

1

Đa dạng - liên tục

167 (68)

77 (32)

0,28

(0,19 – 0,41)

Kết quả bảng 5 cho thấy có mối liên quan giữa tính chất công việc và RLCX. Những công nhân làm các công việc đa dạng có nguy cơ bị RLCX ít hơn những công nhân làm các công việc đơn điệu, lặp lại 0,28 lần (KTC 95%: 0,19 – 0,41) với p <0,001.

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đă cho thấy: Công nhân may đa số là công nhân trẻ với  89% là lao động nữ. Tỉ lệ công nhân bị RLCX nghề nghiệp là 83%. Có mối liên quan giữa RLCX với tư thế lao động và tính chất công việc, với p = 0,004 và p <0,001.

KIẾN NGHỊ 

Để giảm RLCX cho người lao động, Công ty nên thực hiện những cải thiện sau:

- Công ty nên tổ chức các khoảng nghỉ ngắn (5 – 10 phút) sau mỗi khoảng thời gian lao động khoảng 120 phút giữa các ca lao động.

- Công ty nên tổ chức cho công nhân tập thể dục giữa giờ.

- Tạo điều kiện cho công nhân được thao tác công việc với các tư thế hợp lư hơn bằng cách hạn chế loại bỏ các tư thế lao động không
tự nhiên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Canadian Center for Occupational Health and Safety – CCOHS (2005), Work – related Musculoskeletal Disorders.

2.          Joint ILO/WHO Committee for Occupational Health (1989). WHO Technical Report Series No.777 – Epidemiology of work – related diseases and accidents. World Health Organization, Geneva.

3.          Nguyễn Bạch Ngọc (1988). Sự phụ thuộc giữa mức độ căng thẳng mệt mỏi thần kinh cơ vùng đai vai và đặc điểm tư thế lao động ngồi. Tập san Viện YHLĐ và VSMT, tr.70 – 77.

4.          Nguyễn Đ́nh Dũng và CS (2000). Bước đầu t́m hiểu t́nh h́nh đau thắt lưng ở công nhân may công nghiệp thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam.

5.          Nguyễn Đ́nh Dũng và CS (2003). Điều kiện lao động và gánh nặng lao động ở công nhân tại các Công ty may thuộc Tổng công ty Dệt – May Việt Nam


 


 



* Viện Vệ sinh - Y tế Công cộng Tp. Hồ Chí Minh

Địa chỉ liên hệ: ThS. Trịnh Hồng Lân                ĐT: 0903736894             Email: trinhhonglan07@yahoo.com.vn