Trần
Thị Tuyết Nga*,
Lư Văn Xuân**
TÓM TẮT
B́nh Thuận là một trong 3 tỉnh (Tây Ninh, Ninh Thuận,
B́nh Thuận) có tỷ lệ phát hiện và tỷ lệ
lưu hành bệnh phong cao nhất khu vực miền Nam Việt
Nam, trong đó Tuy Phong là một trong những huyện có tỷ
lệ phát hiện bệnh cao nhất tỉnh. Để
góp phần nâng cao nhận thức và quan niệm mới về
bệnh phong trong cộng đồng nói chung và thế hệ
trẻ huyện Tuy Phong nói riêng, cuộc khảo sát kiến
thức và thái độ về bệnh phong của học
sinh THCS được thực hiện tại thị trấn
Liên Hương, Tuy Phong, B́nh Thuận năm 2008.
Mục tiêu : Xác định tỷ lệ học
sinh THCS tại thị trấn Liên Hương, Tuy Phong, B́nh
Thuận có kiến thức, thái độ đúng về bệnh
phong và mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ
với giới tính, tŕnh độ học vấn và dân tộc
của học sinh.
Đối tượng và
phương pháp : Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện
trên học sinh cấp II tại thị trấn Liên
Hương, Tuy Phong, B́nh Thuận tháng 4 năm 2008. Thông tin về
giới tính, tŕnh độ học vấn, dân tộc và kiến
thức, thái độ về bệnh phong được
thu thập bằng bộ câu hỏi soạn sẵn cho học
sinh tự điền độc lập.
Kết quả : Qua khảo sát kiến thức
và thái độ về bệnh phong của 574 học sinh
đang học tại các trường THCS thuộc thị
trấn Liên Hương cho kết quả sau: có 542 học
sinh (tỷ lệ 94,4%) đă từng nghe nói về bệnh
phong. Khảo sát trên 542 học sinh đă từng nghe nói về
bệnh phong th́ có 240 (tỷ lệ 44,3%) học sinh có kiến
thức đúng về bệnh phong và có 240 (tỷ lệ
44,3%) học sinh có thái độ đúng đối với
bệnh nhân phong. Phân tích mối liên quan giữa kiến thức,
thái độ về bệnh phong với giới tính, tŕnh
độ học vấn và dân tộc của 542 học sinh
đă từng nghe nói về bệnh phong cho thấy học
sinh nam có kiến thức đúng về bệnh phong thấp
hơn so với học sinh nữ (39,2% so với
48,6%). Sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê (p=0,03).
Có sự khác nhau giữa có ư nghĩa thống
kê giữa tỷ lệ học sinh các lớp 6, 7,
8, 9 có kiến thức và thái độ đúng
về bệnh phong (p<0,001).
Kết luận : Tỷ lệ học sinh có kiến
thức và thái độ đúng về bệnh phong là 44,3%
và 44,3%. Có mối liên quan giữa kiến thức và thái
độ về bệnh phong với giới tính và tŕnh
độ học vấn của học sinh.
Từ khoá : kiến thức,
thái độ, bệnh phong, học sinh trung học cơ sở
ABSTRACT
KNOWLEDGE AND ATTITUTE OF LEPROSY OF JUNIOR HIGH SCHOOL PUPILS IN LIEN HUONG, TUY PHONG, BINH THUAN, IN 2008
Tran Thi Tuyet Nga,Ly Van Xuan* Y Hoc TP. Ho Chi Minh* Vol. 14- Supplement of No 1-2010: 157-162
Binh Thuan is one of the three provinces
having the highest prevalance and detected rate of leprosy in
Aims: To identify propotion of knowledge and
attitute of leprosy of junior high school pupils in Lien Huong, Tuy Phong, Binh
Thuan and identify relationship between knowledge and attitute with sex, grade
and race
of pupils.
Methods: The cross – secsional study was carried out among the pupils of junior high school pupils in Lien Huong, Tuy Phong, Binh Thuan in April, 2008. Information about sex, class, race, knowledge – attitute of pupils was collected by structured questionnaire from independent assessement of pupils.
Results: The study of knowledge and attitute of
leprosy of 574 pupils showed that: 542 (94.4%) pupils who have ever heard about
leprosy, 240 (44.3%) pupils with good knowledge and 240 (44.3%) with good
attitute
of leprosy. The relaltionship between knowledge, attitute of leprosy and sex,
grade, race among 542 pupils is significant.
Conclusion: There are 44.3% and 44.3% of junior
high school pupils in Lien Huong, Tuy Phong, Binh Thuan having good knowledge
and attitute of leprosy. There is a significant relationship between knowledge
and attitute with sex and grade of pupils.
Keywords: Knowledge, attitute, leprosy, junior high school pupils.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, với quan niệm mới về bệnh phong, nhận thức cơ bản về căn bệnh này đă có nhiều thay đổi(7). Ch́a khoá thay đổi nhận thức và t́nh cảm của mọi người về bệnh phong chính là giáo dục y tế. Khi giáo dục y tế đến với tất cả tầng lớp nhân dân, đặc biệt là học sinh - sinh viên th́ xă hội sẽ thay đổi cách nh́n và t́nh cảm đối với người bệnh(3,4). Trong chương tŕnh mục tiêu quốc gia pḥng chống bệnh phong, tiêu chuẩn đánh giá sự hiểu biết của cộng đồng (bao gồm: cán bộ xă, cán bộ y tế và học sinh THCS) về bệnh phong là một trong 4 tiêu chuẩn để công nhận một tỉnh, thành phố hoặc một quận, huyện, thị xă đạt tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong.
Tại B́nh Thuận, chương tŕnh pḥng chống bệnh phong của tỉnh được bắt đầu thực hiện từ năm 1990 (5). Tuy nhiên cho đến nay, B́nh Thuận vẫn là một trong ba tỉnh (Tây Ninh, Ninh Thuận, B́nh Thuận) có tỷ lệ phát hiện và tỷ lệ lưu hành bệnh phong cao nhất khu vực miền Nam, trong đó huyện Tuy Phong là một trong những huyện có tỷ lệ phát hiện bệnh cao nhất tỉnh (9). Những năm gần đây, tỷ lệ lưu hành bệnh phong trong huyện Tuy Phong tuy có giảm nhưng vẫn c̣n ở mức cao (0,9/10.000 dân vào năm 2007) (9) so với tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong của một huyện (<0,2/10.000 dân) (1, 2).
Với mục đích góp phần nâng cao nhận thức và quan niệm về bệnh phong trong cộng đồng nói chung và thế hệ trẻ huyện Tuy Phong nói riêng, chúng tôi thực hiện khảo sát kiến thức và thái độ về bệnh phong ở học sinh THCS thị trấn Liên Hương năm 2008.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ học sinh THCS có kiến thức và thái độ đúng về bệnh phong tại thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh B́nh Thuận năm 2008 và mối liên quan giữa giới tính, tŕnh độ học vấn và dân tộc với kiến thức và thái độ của học sinh về bệnh phong.
ĐỐI TƯỢNG -
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết
kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt
ngang mô tả
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả học sinh đang học tại các trường THCS thuộc huyện Tuy Phong, tỉnh B́nh Thuận năm 2008
Tất cả học sinh đang học tại các trường THCS thuộc thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh B́nh Thuận năm 2008
Cỡ mẫu ![]()
Trong đó:
Z: trị số của phân phối chuẩn (z = 1,96)
α: xác suất sai lầm loại 1 (α = 0,05)
p: trị số mong muốn của tỷ lệ (p = 0,5)
d: độ chính xác (sai số cho phép) (d = 0,05)
Từ công thức trên ta có cỡ mẫu là:384. V́ chọn mẫu cụm nên ta lấy hệ số thiết kế là 2, do đó cỡ mẫu tính được là: N = 768, con số này chiếm >10% dân số chọn mẫu (P = 2247) nên ta có cỡ mẫu hiệu chỉnh theo công thức:
![]()
Như vậy, cỡ mẫu cần tiến hành nghiên cứu là 573
Kĩ thuật chọn
mẫu:
Chọn mẫu
cụm với đơn vị cụm là lớp
Bước 1: Thị trấn Liên Hương có 2 trường THCS gồm 2247 học sinh với tổng số lớp học là 56, học sinh b́nh quân mỗi lớp là 40. Với cỡ mẫu nghiên cứu là 573, số lớp cần khảo sát là 14 lớp. Khoảng cách mẫu là 56/14 = 4. Liệt kê thứ tự danh sách các lớp của hai trường, chọn ngẫu nhiên lớp đầu tiên bằng cách bốc thăm, tiếp tục chọn lớp kế tiếp bằng cách cộng số thứ tự của lớp vừa chọn với khoảng cách mẫu là 4, sao cho giữa hai lớp được chọn cách nhau 4 lớp.
Bước 2: Lấy thông tin trên tất cả các học sinh của các lớp được chọn. Trường hợp học sinh vắng mặt th́ sẽ lấy thông tin vào ngày hôm sau.
KẾT QUẢ
Qua tiến hành khảo sát 574 học sinh THCS tại thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh B́nh Thuận năm 2008, chúng tôi thu được kết quả sau:
Đặc điểm của mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=574)
|
Đặc điểm |
Tần số (n=574) |
Tỷ lệ (%) |
|
|
Giới |
|
|
|
|
|
|
269 |
46,9 |
|
Nữ |
305 |
53,1 |
|
|
Tŕnh độ học
vấn |
|
|
|
|
|
Lớp 6 |
168 |
29,3 |
|
Lớp 7 |
159 |
27,7 |
|
|
Lớp 8 |
124 |
21,6 |
|
|
Lớp 9 |
123 |
21,4 |
|
|
Dân tộc |
|
|
|
|
|
Kinh |
567 |
98,8 |
|
Chăm |
7 |
1,2 |
|
|
Khác |
0 |
0 |
|
Nhận xét: Tỷ lệ học
sinh nữ tham gia nghiên cứu (53,1%) cao hơn so với nam
(46,9%). Hầu hết học sinh tham gia nghiên cứu là dân tộc
Kinh (98,8%), chỉ có một tỷ lệ nhỏ học sinh
là dân tộc Chăm (1,2%), không có học sinh thuộc dân
tộc khác.
Học sinh từng nghe nói về bệnh phong
Bảng 2: Tỷ lệ học sinh từng nghe nói về bệnh phong (n=574)
|
Nghe nói về bệnh phong |
Tần số (n=574) |
Tỷ lệ (%) |
|
Đă từng nghe |
542 |
94,4 |
|
Chưa từng nghe |
32 |
5,6 |
|
Tổng |
574 |
100 |
Nhận xét: Kết quả khảo sát cho thấy có 542 (94,4%) học sinh đă từng nghe nói về bệnh phong và 32 (5,6%) học sinh chưa từng nghe nói về bệnh này.
Sau đây là kết quả khảo sát 542 học sinh đă từng nghe nói về bệnh
phong:
Bảng 3: Kết quả khảo sát kiến thức về bệnh phong của học sinh (n=542)
|
Kiến thức |
Tần số (n=542) |
Tỷ lệ (%) |
|
Nguyên nhân |
|
|
|
Di truyền từ cha mẹ |
46 |
8,5 |
|
Bị nhiễm vi khuẩn phong |
343 |
63,3 |
|
Ăn thịt động
vật hoặc cá độc |
13 |
2,4 |
|
Đi ngang qua mồ mả
mới sau cơn mưa |
140 |
25,8 |
|
Đặc điểm
lây lan |
|
|
|
Không lây |
79 |
14,6 |
|
Khó lây |
310 |
57,2 |
|
Dễ lây |
153 |
28,2 |
|
Đường lây |
|
|
|
Qua đường
tiêu hóa |
130 |
24,0 |
|
Qua đường hô
hấp |
278 |
51,3 |
|
Qua côn trùng đốt |
155 |
28,6 |
|
Qua da niêm có vết
xướt |
305 |
56,3 |
|
Dấu hiệu nhận
biết |
|
|
|
Da có vết đổi màu |
354 |
65,3 |
|
Ho kéo dài nhiều ngày |
80 |
14,8 |
|
Lâu lâu co giật, sùi bọt
mép |
242 |
44,7 |
|
Có ít hoặc không có cảm
giác khi sờ vào da |
196 |
54,6 |
|
Mất cảm giác nóng
lạnh, cảm giác đau ở da |
355 |
65,5 |
|
Đau nhức
xương khớp |
71 |
13,1 |
|
Da nổi lên những cục u to và có mủ |
241 |
44,5 |
|
Đau cột sống
thắt lưng |
47 |
8,7 |
Nhận xét: Có 63,3% học sinh biết nguyên nhân gây bệnh phong là do vi khuẩn phong. Có 57,2% học sinh biết được bệnh phong là bệnh khó lây. Đa số học sinh biết được hai đường lây chính của bệnh phong là qua hô hấp (51,3%) và qua da niêm có vết xướt (56,3%). Tỷ lệ học sinh biết được ba dấu hiệu sớm của bệnh phong: da có vết đổi màu (65,3%), có ít hoặc không có cảm giác khi sờ vào da (54,6%); mất cảm giác nóng lạnh, cảm giác đau ở da (65,5%).
Một học sinh được đánh giá là có kiến thức đúng về bệnh phong khi có kiến thức đúng về dấu hiệu nhận biết sớm bệnh phong và 2 trong 3 kiến thức sau: nguyên nhân gây bệnh, khả năng lây lan, đường lây của bệnh phong.
Bảng 4: Kiến thức chung đúng về bệnh phong (n=542)
|
Kiến thức chung |
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
|
Đúng |
240 |
44,3 |
|
Không đúng |
302 |
55,7 |
Nhận xét: Chỉ có 240 (44,3%) học sinh có kiến thức đúng về bệnh phong.
Bảng 5: Kết quả khảo sát thái độ của học sinh đối với BN phong (n=542)
|
Thái độ |
Rất đồng ư |
Đồng ư |
Không đồng ư |
Rất không đồng ư |
|
Đưa BN phong vào trại
phong |
103 (19,0) |
199 (36,7) |
163 (30,1) |
77 (14,2) |
|
BN phong đang điều
trị được đi học và sinh hoạt như
người b́nh thường |
102 (18,8) |
254 (46,9) |
159 (29,3) |
27 (5,0) |
|
BN phong đă điều
trị khỏi được đi học và sinh hoạt
như người b́nh thường |
276 (50,9) |
216 (39,9) |
33 (6,1) |
17 (3,1) |
Một học sinh được đánh giá là có thái độ đúng đối với BN phong khi đồng ư cả ba ư trên.
Bảng 6: Thái độ chung đúng đối với bệnh nhân phong (n=542)
|
Thái độ chung |
Tần số |
Tỷ lệ (%) |
|
Đúng |
240 |
44,3 |
|
Không đúng |
302 |
55,7 |
Nhận xét: Có 44,3% học sinh có thái độ đúng đối với BN phong.
Bảng
7: Kết quả
phân tích (n=542)
|
|
|
Kiến thức n (%) |
p |
PR (KTC 95%) |
|
|
|
Đúng |
Không đúng |
|||
|
Giới |
|
98 (39,2) |
152 (60,8) |
0,03 |
0,81 |
|
Nữ |
142 (48,6) |
150 (51,4) |
(0,66 – 0,98) |
||
|
Tŕnh độ học
vấn |
Lớp 6 |
17 (11,8) |
127 (88,2) |
<0,001 |
1 |
|
Lớp 7 |
74 (47,1) |
83 (52,9) |
3,99 (2,48 – 6,43) |
||
|
Lớp 8 |
60 (48,4) |
64 (51,6) |
4,1 (2,53 – 6,64) |
||
|
Lớp 9 |
89 (76,1) |
28 (23,9) |
6,44 (4,08 – 10,18) |
||
|
Dân tộc |
Chăm |
4 (42,9) |
3 (57,1) |
0,939 |
0,97 0,41 – 2,29 |
|
Kinh |
237 (44,3) |
298 (55,7) |
|||
Nhận xét: Học sinh nam có kiến thức đúng về bệnh phong thấp hơn so với học sinh nữ (39,2% so với 48,6%). Sự khác biệt này có ư nghĩa thống kê (p=0,03). Có sự khác nhau có ư nghĩa thống kê giữa tỷ lệ học sinh các lớp 6, 7, 8, 9 có kiến thức đúng về bệnh phong (p<0,001).
Bảng
8: Kết quả
phân tích (n=542)
|
|
|
Thái độ n (%) |
p |
PR (KTC 95%) |
|
|
|
Đúng |
Không đúng |
|||
|
Giới |
|
103 (41,2) |
147 (58,8) |
0,182 |
0,88 (0,73 – 1,06) |
|
Nữ |
137 (46,9) |
155 (53,1) |
|||
|
Tŕnh độ học
vấn |
Lớp 6 |
47 (32,6) |
97 (67,4) |
0,001 |
1 |
|
Lớp 7 |
61 (38,9) |
96 (61,1) |
1,19 (0,88 – 1,62) |
||
|
Lớp 8 |
65 (52,4) |
59 (47,6) |
1,61 (1,2 – 2,14) |
||
|
Lớp 9 |
67 (57,3) |
50 (42,7) |
1,75 (1,32 -2,33) |
||
|
Dân tộc |
Chăm |
1 (14,3) |
6 (85,7) |
0,11 |
0,32 0,05 – 1,97 |
|
Kinh |
239 (44,7) |
296 (55,3) |
|||
Nhận xét: Có sự khác nhau giữa tỷ lệ học sinh các lớp 6, 7, 8, 9 có thái độ đúng đối với BN phong, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001).
Bảng 9: Kết quả phân (n=542)
|
|
|
Thái độ n (%) |
p |
PR (KTC 95%) |
|
|
|
Đúng |
Không đúng |
|||
|
Kiến thức |
Đúng |
124 (51,7) |
116 (48,3) |
0,002 |
1,34 (1,11 – 1,62) |
|
Không đúng |
116 (38,4) |
186 (61,6) |
|||
Nhận xét: Có mối liên quan giữa kiến thức và thái độ đối với bệnh phong của học sinh (p=0,002).
BÀN LUẬN
Qua khảo sát trên 574 học sinh của hai trường THCS Lê Văn Tám và Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc thị trấn Liên Hương cho thấy học sinh là người Kinh chiếm tỷ lệ 98,8%, chỉ có 1,2% là người Chăm, không có học sinh thuộc dân tộc khác. Điều này phù hợp với sự phân bố dân tộc ở thị trấn Liên Hương: người Kinh chiếm đa số, chỉ có một tỷ lệ nhỏ là người Chăm, không có dân tộc khác.
Tỷ lệ học sinh có kiến thức về nguyên nhân gây bệnh phong là 63,3%, tỷ lệ này khá thấp so với tỷ lệ là 84,0% trong nghiên cứu của Phạm Văn Hiển (8) và 87,7% trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Thục (6). Vẫn c̣n tỷ lệ 25,8% học sinh cho rằng bệnh phong là do đi ngang qua mồ mả mới sau cơn mưa. Các nghiên cứu trước đây không đề cập đến vấn đề này. Có 42,8% cho rằng bệnh phong là bệnh dễ lây, tỷ lệ này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Thục (6). Kết quả khảo sát kiến thức của học sinh về sự lây lan và đường lây của bệnh phong cho thấy hiểu biết về bệnh phong của học sinh vẫn c̣n chưa đầy đủ. Có 64,6% học sinh biết các dấu hiệu sớm của bệnh phong, tỷ lệ này thấp hơn so với tỷ lệ 80% trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Thục (6). Mặc dù học sinh ở hai trường THCS nói trên đều đă được GDTT về bệnh phong năm 2006 – 2007, nhưng kiến thức của các em về bệnh phong vẫn c̣n thấp: chỉ có 44,3% có kiến thức đúng về bệnh phong, và 44,3% học sinh có thái độ đúng về bệnh phong, có thể do quan niệm sai lầm về đường lây bệnh.
Qua phân tích mối liên quan giữa kiến thức chung với các yếu tố về giới, tŕnh độ học vấn và dân tộc cho thấy giới tính và tŕnh độ học vấn có liên quan với kiến thức về bệnh phong của học sinh. Học sinh nam có kiến thức đúng về bệnh phong thấp hơn so với học sinh nữ. Điều này có thể lí giải do học sinh nữ quan tâm nhiều hơn về các vấn đề được nhà trường phổ biến. Học sinh ở các lớp trên có kiến thức đúng về bệnh phong cao hơn học sinh ở các lớp dưới. Điều này có thể lí giải do thời lượng và số lượng kiến thức về bệnh phong được học sinh tiếp thu tăng dần v́ hàng năm học sinh được GDTT về bệnh phong. Học sinh là dân tộc Kinh và dân tộc Chăm có kiến thức đúng về bệnh phong như nhau. Kết quả này khác với nghiên cứu của Phạm Văn Hiển (8), sự khác nhau có lẽ do tỷ lệ người Kinh và người Chăm có khác nhau ở hai công tŕnh nghiên cứu.
Có 55,7% học
sinh trong nghiên cứu cho rằng nên đưa tất cả
những người bệnh phong vào trại phong để
tránh lây lan, tỷ lệ này thấp hơn so với tỷ
lệ 81,7% trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Thục
(6), nhưng cũng nói lên được
phần nào định kiến của xă hội về bệnh
phong vẫn c̣n tồn tại trong nhân dân với tỷ lệ
cao. Phần lớn học sinh đồng ư rằng những
BN phong đang điều trị và đă điều trị
khỏi có thể đi học và sinh hoạt như người
b́nh thường. Tuy nhiên, tỷ lệ đồng ư đối
với nhóm BN phong đă được điều trị
khỏi chiếm tỷ lệ cao hơn (89,9% so với
65,5%) đối với nhóm BN phong đang điều trị.
Qua phân tích mối
liên quan giữa thái độ chung của học sinh đối
với BN phong với các yếu tố về giới, tŕnh
độ học vấn và dân tộc cho thấy chỉ có
yếu tố tŕnh độ học vấn có liên quan có ư
nghĩa thống kê với thái độ của học sinh
đối với BN phong. Ở
các lớp trên th́ tỷ lệ học sinh có thái độ
đúng đối với BN phong hơn các lớp dưới.
Điều này có thể lí giải do học sinh ở tuổi
càng lớn th́ cách nh́n sự việc, hiện tượng
có thể cũng khác hơn, hoặc có thể do khối
lượng kiến thức về bệnh phong được
học sinh tiếp thu hằng năm tăng dần dẫn
đến cách nh́n nhận và cách đối xử đối
với BN phong cũng khác. Học sinh là dân tộc Kinh và dân
tộc Chăm có thái độ đúng đối với BN
phong như nhau. Kết quả này khác với kết quả
nghiên cứu của Phạm Văn Hiển (8), sự khác nhau có lẽ do tỷ lệ
người Kinh và người Chăm có khác nhau ở hai công tŕnh nghiên cứu.
Kết quả
phân tích mối liên quan giữa kiến thức và thái độ
về bệnh phong của học sinh (bảng 7) cho thấy,
tỷ lệ học sinh có kiến thức và thái độ
đúng về bệnh phong cao hơn so với tỷ lệ
học sinh có kiến thức đúng nhưng thái độ
không đúng đối với BN phong. Sự khác biệt này
có ư nghĩa thống kê (p=0,002). Điều này có thể lí
giải là kiến thức của học sinh tăng lên th́
nhận thức và cách nh́n của học sinh đối với
BN phong cũng khác.
KẾT LUẬN
Qua khảo sát
574 học sinh của các trường THCS thị trấn
Liên Hương, Tuy Phong, B́nh Thuận cho thấy : tỷ
lệ học sinh có kiến thức đúng về bệnh
phong là 44,3%, tỷ lệ học sinh có thái độ
đúng về bệnh phong là
44,3%, có mối liên quan giữa kiến thức và thái độ
về bệnh phong với giới tính và tŕnh độ học
vấn của học sinh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Bạch Thái B́nh.
(2001). T́nh h́nh tàn phế độ II ở bệnh nhân phong
mới tại tỉnh Đồng Nai 1997 - 2000.
TP Hồ Chí Minh.
2. Bộ Y Tế. Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y Tế về quy định tiêu chuẩn lọai trừ bệnh phong ở quy mô tỉnh, huyện, xă. In B. Y. Tế (Ed.).
3. Lê kinh Duệ. Chỉ đạo công tác chống phong (bài dịch).
4. Lê Kinh Duệ. (1999). Đường lối quốc gia chỉ đạo thực hiện chương tŕnh thanh toán bệnh phong từng vùng ở Việt Nam. Nhà xuất bản Y Học.
5. Nguyễn Văn Quyền. (2002). Những đặc điểm dịch tễ - lâm sàng của bệnh phong tại huyện Bắc B́nh - tỉnh B́nh Thuận từ năm 1997 - 2001. Đại Học Y Dược, Hồ Chí Minh.
6. Nguyễn Văn Thục và cộng sự. (2004). Nâng cao nhận thức về bệnh phong và bệnh lây truyền qua đường t́nh dục trong học sinh tại trường Trung học Nguyễn Du, Quận 10 TP. Hồ Chí Minh, năm 2004. Hồ Chí Minh.
7. Nguyễn Xuân Hiền, Trương Mộc Lợi & Bùi Khánh Duy. (1991). Bệnh phong. In Bệnh ngoài da và hoa liễu (pp. 289-302). Hồ Chí Minh: Y học.
8. Phạm Văn Hiển và cộng sự. (2001). Điều tra dịch tễ tàn tật bệnh phong ở Việt Nam, đề xuất các biện pháp phòng và điều trị phục hồi, Bệnh viện Bạch Mai. Hà Nội.
9.
Trung tâm da liễu B́nh Thuận.
(2007). T́nh h́nh quản lư bệnh phong huyện Tuy Phong,
tỉnh B́nh Thuận,
năm 2007.