TÓM TẮT
Mở
đầu: Trí tuệ xúc cảm là một thành tố
trí tuệ mới được phát hiện vào đầu
thập niên 90 của thế kỷ XX. Nó nhanh chóng nhận
được sự chú ư của các nhà chuyên môn, đặc
biệt là các nhà giáo dục, bởi ảnh hưởng của
trí tuệ xúc cảm đối với sự thành công của
con người. Con người thành đạt trong cuộc
sống ngày nay không chỉ có kiến thức sâu rộng, khả
năng sáng tạo mà c̣n cần phải có bản lĩnh
để chế ngự các xung động, các cảm xúc
trong tham gia, trong hợp tác, trong việc đưa ra các quyết
định, kết hợp với sự thấu hiểu
các diễn biến tâm lư, t́nh cảm của đối tác.
Các nghiên cứu về trí tuệ xúc cảm trên thế giới
cho thấy rằng sự phát triển của trí tuệ xúc
cảm làm cho kết quả học tập của học
sinh tốt hơn. V́ vậy, trong những năm cuối của
thế kỷ XX, ở các nước phát triển, người
ta đă quan tâm nhiều đến xúc cảm của con
người và việc giáo dục xúc cảm cho học sinh
v́ con người là yếu tố then chốt, cơ bản
để phát triển xă hội. Để thực hiện
nhiệm vụ giáo dục và đào tạo con người
phù hợp với sự phát triển của xă hội, việc
nghiên cứu về trí tuệ xúc cảm của sinh viên là một
trong những nội dung rất quan trọng của công tác
giáo dục trong nhà trường đại học hiện
nay.
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này dựa trên trên cơ sở
khảo sát mức độ biểu hiện về trí tuệ
xúc cảm ở các sinh viên, từ đó đề xuất
những giải pháp phát triển trí tuệ xúc cảm để
nâng cao hiệu quả học tập và rèn luyện của
sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của
nhà trường.
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu là 514 sinh viên với
140 nam và 374 nữ. Nghiên cứu này được tiến
hành theo các phương pháp: phương pháp nghiên cứu tài
liệu để thiết lập cơ sở lư luận của
đề tài, phương pháp trắc nghiệm dùng làm công
cụ đo nghiệm trong công tŕnh nghiên cứu,
phương pháp thống kê ứng dụng trong nghiên cứu
khoa học để xử lư số liệu thực nghiệm
của đề tài.
Kết quả nghiên cứu:
Nghiên cứu đă xác định
được các mức độ biểu hiện khác
nhau về trí tuệ xúc cảm của sinh viên, đồng
thời chỉ ra được 3 yếu tố cảm xúc
trí tuệ vượt trội, đó là: năng lực thực
hiện các trách nhiệm xă hội, năng lực tự khẳng
định ḿnh và năng lực giải quyết vấn
đề.
Kết luận: Theo các tiêu chí đánh giá về mức
độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm của sinh
viên mà nghiên cứu đă đề ra, chúng ta nhận thấy
rằng sự biểu hiện của các yếu tố cảm
xúc trí tuệ của sinh viên chỉ ở mức độ
trung b́nh. Do đó, việc giáo dục và phát triển trí tuệ
xúc cảm cho sinh viên cần phải được đặc
biệt chú trọng ngay từ năm thứ nhất, trong
đó tất cả các kỹ năng quan trọng cần
thiết cho sự phát triển các năng lực cảm xúc
trí tuệ cần được phát triển hài ḥa để
nâng cao trí tuệ xúc cảm của sinh viên trong quá tŕnh
đào tạo.
Từ khóa: Trí tuệ, xúc cảm, trí tuệ xúc cảm,
năng lực về trí tuệ xúc cảm.
ABSTRACT
RESEARCH ON STUDENTS’ LEVEL OF EMOTIONAL INTELLIGENCE
AT
Huynh Thi Minh Hang * Y Hoc TP.Ho Chi Minh * Vol 14 - Supplement of No 1 - 2010: 1- 8
Background: Emotional intelligence is one element which
was just discovered at the beginning of 90s of
20th century. It has been quickly paid attention by the scientists,
especially from the educators, thanks to the affection of emotional
intelligence on people’s success. Today, people archieve in life, not only
relying on their large knowledge and ability of creativeness but also on their
capacity of controlling feelings and emotion in working, in co-operating and in
making decisions together with their ability of reading the partners’
psychology and emotion. Studies on emotional intelligence on the world prove
that emotional intelligence is one important aspect of people’s intelligence.
The development of emotional intelligence helps improve students’s archievements
in their study. Therefore, at the end of 20th century, in developed
countries, people are more interested in emotion and emotional education as
human resources as the main factor of social development. In order to carry out
the mission of education and training in accordance with the growth of society,
the study on emotional intelligence among students becomes one of the important
contents in educational program in universities in present.
Objectives: This study is based on researching students’ level
of emotional intelligence, and thence solutions of developing emotional
intelligence are suggested in order to improve their effectiveness in learning
and practising, which helps raise the quality of education in the university.
Methods: The sample of research consists of 514 students,
including 140 males and 374 females. This research is carried out, relying on
some methods: researching documents to form the methodology; using testing
methods as scientific instruments to measure the capacities of emotional intelligence;
and applying statistics method in scientific research to process data.
Results: The research could define the different levels of
students’ emotional intelligence and at the same time show 3 prominent elements
of emotional intelligence, that is social responsibility, self-actualization
and problem solving.
Conclusion: According to the criteria of students’ emotional
intelligence evaluation which the research suggests, we find out that students’
capacities of emotional intelligence are at average level. Therefore, the
educating and developing emotional intelligence for students should be
specially paid attention to right at the first year at the university, in which
all the essential skills for growing the capacities of emotional intelligence need
to be harmonously developed in order to enhance students’ emotional
intelligence during the process of their education.
Keywords: Intelligence, emotion, emotional intelligence,
capacity of emotional intelligence.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước đây, khi nói đến trí tuệ, người ta thường chú trọng đến mặt nhận thức mà quên rằng xúc cảm cũng là một mặt rất quan trọng của trí tuệ con người. Con người thành đạt trong cuộc sống ngày nay không chỉ có kiến thức sâu rộng, khả năng sáng tạo mà c̣n cần phải có bản lĩnh để chế ngự các xung động, các cảm xúc trong tham gia, trong hợp tác, trong việc đưa ra các quyết định, kết hợp với sự thấu hiểu các diễn biến tâm lư, t́nh cảm của đối tác.
Trí
tuệ xúc cảm là một thành tố trí tuệ mới
được phát hiện vào đầu thập niên 90 của
thế kỷ XX. Nó nhanh chóng nhận được sự
chú ư của các nhà chuyên môn, đặc biệt là các nhà giáo dục,
bởi ảnh hưởng của trí tuệ xúc cảm
đối với sự thành công của con người.
Các nghiên cứu về trí tuệ xúc cảm trên thế giới
cho thấy rằng sự phát triển của trí tuệ xúc
cảm làm cho kết quả học tập của học
sinh tốt hơn. V́ vậy, trong những năm cuối của
thế kỷ XX, ở các nước phát triển, người
ta đă quan tâm nhiều đến xúc cảm của con
người và việc giáo dục xúc cảm cho học sinh
v́ con người là yếu tố then chốt, cơ bản
để phát triển xă hội. Để thực hiện
nhiệm vụ giáo dục và đào tạo con người
phù hợp với sự phát triển của xă hội, việc
nghiên cứu về trí tuệ xúc cảm của sinh viên là một
trong những nội dung rất quan trọng của công tác
giáo dục trong nhà trường đại học
hiện nay.
MỘT SỐ CƠ SỞ LƯ LUẬN
Trong tiếng La tinh, trí tuệ có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ. C̣n Từ điển Tiếng Việt giải thích trí tuệ là khả năng nhận thức lư tính đạt đến tŕnh độ nhất định.
Giống như nhiều vấn đề khác trong tâm lư học, thật là khó có thể nêu lên được một định nghĩa hoàn chỉnh và đầy đủ nhất về thuật ngữ “trí tuệ” bởi lẽ cho đến hiện nay có nhiều quan điểm của các nhà khoa học khác nhau trên thế giới nghiên cứu về vấn đề này. Do đó, “trí tuệ” hay c̣n gọi là “trí thông minh” được định nghĩa theo những cách khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta có thể khái quát một cách tương đối các quan niệm đă có về trí tuệ thành 3 nhóm chính:
- Nhóm thứ nhất: Các
quan điểm coi trí tuệ là khả năng hoạt động
lao động và học tập của
cá nhân.
- Nhóm thứ hai: Các quan điểm
đồng nhất hóa trí tuệ với năng lực
tư duy trừu tượng của
cá nhân.
- Nhóm thứ ba: Các quan điểm coi trí tuệ là năng lực thích ứng tích cực của cá nhân.
Thực ra, các quan niệm về trí tuệ không loại trừ nhau. Trong thực tiễn, không có quan niệm nào chỉ chú ư đến duy nhất một khía cạnh năng lực tư duy hay khả năng thích ứng, mà thường đề cập tới hầu hết các nội dung đă nêu. Sự khác biệt giữa các quan niệm chỉ là ở chỗ khía cạnh nào được nhấn mạnh và nghiên cứu sâu hơn. Có hai h́nh thức trí tuệ tương đối độc lập, nhưng tác động lẫn nhau: trí tuệ lư trí và trí tuệ xúc cảm.
Cho đến nay, tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về trí tuệ xúc cảm, có quan điểm cho rằng trí tuệ xúc cảm là loại trí tuệ thuần năng lực tinh thần, nhưng cũng có quan điểm cho rằng trí tuệ xúc cảm là sự kết hợp giữa năng lực tinh thần và các năng lực không phải tinh thần.
Với quan điểm thứ nhất, các nhà tâm lư học đă đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về loại trí tuệ này, tiêu biểu là các tác giả Peter Salovey và John Mayer cho rằng: “Trí tuệ xúc cảm là năng lực nhận biết xúc cảm của ḿnh và của người khác, biết bày tỏ xúc cảm của ḿnh và ḥa xúc cảm vào suy nghĩ, có thể hiểu và phân tích bằng xúc cảm, đồng thời có khả năng điều khiển và kiểm soát xúc cảm của bản thân và của người khác”. Theo quan niệm của hai nhà tâm lư học này th́ “trí tuệ xúc cảm bao gồm khả năng tiếp nhận, đánh giá và biểu hiện xúc cảm, khả năng đánh giá và phân loại các xúc cảm khi định hướng suy nghĩ, khả năng hiểu xúc cảm và nhận biết xúc cảm, khả năng điều khiển và định hướng xúc cảm nhằm mục đích phát triển xúc cảm và trí tuệ”.
Với quan điểm thứ hai, những người xem loại trí tuệ này là sự kết hợp giữa năng lực tinh thần và các năng lực không phải tinh thần cũng có những định nghĩa khác nhau về trí tuệ xúc cảm, chẳng hạn như:
- Tác giả Reuven Bar-On cho rằng: “Trí tuệ xúc cảm là một dăy các năng lực phi nhận thức và những kỹ năng có ảnh hưởng đến khả năng thành công của một người trong hoàn cảnh người đó phải đương đầu với những yêu cầu và sức ép từ môi trường”.
- Tác giả Daniel Goleman lại đưa ra định nghĩa về trí tuệ xúc cảm như sau: “Trí tuệ xúc cảm là năng lực nhận biết các cảm xúc của ḿnh và của người khác, năng lực tự thúc đẩy và năng lực điều hành tốt các xúc cảm trong bản thân ḿnh và trong các mối liên hệ với người khác”. Ông quan niệm rằng “Trí tuệ xúc cảm bao gồm năng lực tự kiềm chế, kiểm soát ḷng nhiệt t́nh, sự kiên tŕ và năng lực tự thôi thúc bản thân ḿnh”.
Từ những cách tiếp cận bản chất về trí tuệ xúc cảm theo những góc độ ít nhiều khác nhau của các tác giả trên, có thể đi đến một nhận định rằng, trí tuệ xúc cảm là một phẩm chất phức hợp, đa diện, đại diện cho những nhân tố khó thấy, khó nắm bắt như tự ư thức, tự nhận thức, tự tin, tính lạc quan, sự thấu cảm, tính kiên nhẫn và tính tích cực xă hội. (6)
Theo Daniel Goleman, về một ư nghĩa nào đó, chúng ta có hai h́nh thức khác nhau của trí tuệ là trí tuệ lư trí và trí tuệ xúc cảm. Cả hai thứ trí tuệ này cùng quyết định cách con người hướng dẫn cuộc sống của ḿnh như thế nào, trong đó trí tuệ xúc cảm cũng quan trọng như trí thông minh. Ông c̣n khẳng định không có trí tuệ xúc cảm th́ trí thông minh không hoạt động được một cách thích đáng. Về mặt lư thuyết sinh lư thần kinh, th́ có sự bổ sung lẫn nhau của hệ thống ŕa và vỏ năo mới, của hạnh nhân và các thùy trán trước, có nghĩa là mỗi hệ thống là một tác nhân riêng biệt của đời sống tinh thần. Trí tuệ xúc cảm là loại trí tuệ góp phần quyết định sự thành bại của đời người nhiều hơn trí thông minh, nó dễ thay đổi hơn và biên độ thay đổi cũng rộng hơn trí thông minh. Trong khi chỉ số thông minh (IQ) th́ hầu như măi cố định, trí tuệ xúc cảm lại có thể phát triển lên, có thể nâng cao chỉ số trí tuệ xúc cảm (EQ) nhờ kinh nghiệm sống và hoạt động giáo dục.
Hiện thời chúng ta có thể nhấn mạnh những thành phần sau đây của trí tuệ xúc cảm:
1) Khả năng nhận biết, đánh giá và thể hiện cảm xúc bản thân. Khía cạnh này bao gồm năng lực nhận thức được các xúc cảm của ḿnh và nhận biết được những suy nghĩ về các xúc cảm đó khi chúng nảy sinh. Đây chính là khả năng tự nhận thức của cá nhân về những xúc cảm của ḿnh đang diễn ra, nảy sinh trong những t́nh huống, điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
2) Khả năng nhận biết và đánh giá cảm xúc của người khác. Việc đánh giá cảm xúc của người khác (khả năng nhận biết chính xác cảm xúc của người khác) và thể hiện cảm xúc đó (khả năng thể nghiệm lại cảm xúc đó vào bản thân ḿnh) đều liên quan tới sự thấu cảm. Hai khả năng này đều nói lên năng lực thấu cảm của con người. Chính sự thấu cảm là một biểu hiện rất quan trọng của trí tuệ xúc cảm.
3) Khả năng điều chỉnh cảm xúc của bản thân và của người khác. Khía cạnh này đề cập đến sự trải nghiệm những cảm xúc của cá nhân và sự theo dơi, đánh giá, xử sự để thay đổi, điều ḥa của ḿnh và của người khác. Khả năng tự điều chỉnh cảm xúc này liên quan tới việc nỗ lực khắc phục những cảm xúc tiêu cực, trong khi vẫn duy tŕ những cảm xúc có lợi cho bản thân. Điều chỉnh cảm xúc cũng bao gồm cả những năng lực thay đổi các phản ứng tương ứng của người khác (làm dịu, kiềm chế cơn nóng giận, v.v… của người khác).
4) Khả năng sử dụng cảm xúc để định hướng hành động. Những cảm xúc của con người có vai tṛ như là động lực thúc đẩy hoặc ḱm hăm hành động, tạo ra sự định hướng, sự chú ư của cá nhân đối với hành động nào đó. V́ vậy, việc sử dụng cảm xúc để điều khiển hành vi là một trong những thành phần quan trọng của trí tuệ xúc cảm. Chẳng hạn, điều khiển hành vi nóng nảy, hành vi ôn ḥa, v.v…
Những thành phần nêu trên tuy mới chủ
yếu nhấn mạnh khía cạnh nhận thức và tính
chất quá tŕnh của trí tuệ xúc cảm, nhưng là các
thành phần có thể đo lường được bằng
các
trắc nghiệm.(8)
Tuy nhiên trong bài báo công bố gần đây, Daniel Goleman (2001) lại đưa ra cấu trúc EI gồm hai loạt đúp (2×2) các hoạt động tạo ra năng lực tổng thể nhằm nhận biết và điều khiển xúc cảm ở ḿnh và ở người khác như sau:
|
NĂNG LỰC CÁ NHÂN (quan hệ với ḿnh) |
NĂNG LỰC XĂ HỘI (quan hệ với người khác) |
|
1. Tự biết bản
thân Nhận biết ḿnh Đánh giá ḿnh chính xác Tự tin |
2. Nhận biết các
quan hệ xă hội Đồng cảm Định hướng sự phục
vụ Biết cách tổ chức
|
|
3. Tự kiểm soát,
quản lư bản thân Kiểm soát cảm xúc của
ḿnh Có ḷng tin Tự ư thức Thích ứng Động cơ thành đạt Sáng tạo |
4. Quản lư điều
khiển các mối quan hệ xă hội Phát triển người khác Tạo ảnh hưởng Giao tiếp Kiểm soát xung đột Lănh đạo có tầm
nh́n, khôn ngoan Xúc tác để thay
đổi Xây dựng các mối quan hệ Tinh thần đồng
đội và sự hợp tác |
Trong đề tài này, chúng tôi chấp nhận quan điểm của nhà tâm lư học người Israel Reuven Bar-On cho rằng để thành công trong công việc và trong cuộc sống, cần có các năng lực về trí tuệ xúc cảm không thể thiếu sau đây:
- Năng lực tự đánh
giá bản thân một cách
lạc quan
- Năng lực tự nhận
biết xúc cảm của
bản thân
- Khả năng quyết đoán
- Tính độc lập
- Năng lực tự khẳng định ḿnh
- Khả năng đồng cảm
- Năng lực thực hiện
các trách nhiệm
xă hội
- Năng lực xây dựng các mối quan hệ liên nhân cách
- Khả năng chịu đựng áp lực
- Năng lực kiểm soát xung tính
- Năng lực đánh giá đúng thực tiễn
- Khả năng linh hoạt trong tư duy
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Khả năng giữ tâm trạng lạc quan
- Khả năng giữ tâm
trạng vui vẻ,
hạnh phúc
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để khảo sát mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm của sinh viên các lớp Dược 2005, Dược 2006, Dược 2007, chúng tôi đă lựa chọn thang đo mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm dựa trên cơ sở lư thuyết về trí tuệ xúc cảm của tác giả Reuven Bar-On để biên dịch và sử dụng trong việc đánh giá mức độ biểu hiện của sinh viên.
Thang đo này gồm 105 câu hỏi trắc nghiệm
được thiết kế để đo lường
mức độ biểu hiện khác nhau của sinh viên về
trí tuệ xúc cảm. Các mức độ đo được
định nghĩa từ thấp đến cao
như sau:
1- Hoàn toàn không đúng
2- Không đúng
3- Lưỡng lự
4- Đúng
5- Hoàn toàn đúng
Thang đo mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm được cấu trúc thành 5 phạm trù đo lường với các tiểu thang đo như sau:
1) Sự hiểu biết chính ḿnh: gồm các
năng lực tự nhận biết xúc cảm của bản
thân, năng lực tự khẳng định ḿnh, tính
độc lập, khả năng quyết đoán và
năng lực đánh giá bản thân một cách
lạc quan.
2) Quan hệ với người khác: gồm các năng lực như khả năng đồng cảm, năng lực thực hiện các trách nhiệm xă hội và năng lực xây dựng các mối quan hệ liên nhân cách.
3) Kiểm soát, quản lư stress: gồm các khả năng chịu đựng áp lực và năng lực kiểm soát xung tính.
4) Khả
năng thích ứng: gồm các năng lực như năng
lực đánh giá đúng thực tiễn, khả năng
linh hoạt trong tư duy và năng lực giải quyết
vấn đề.
5) Tâm trạng: gồm các khả năng giữ tâm trạng lạc quan, vui vẻ, hạnh phúc.
Một
số tiêu chí đánh giá
Để có thể đưa ra kết luận về mức độ tự đánh giá của sinh viên cho từng tiêu chí qua từng câu trắc nghiệm cũng như của các tiểu thang đo, ta căn cứ vào chuẩn đánh giá mức độ cao thấp M của từng câu dựa vào các khoảng ước lượng của điểm trung b́nh b́nh quân và độ lệch tiêu chuẩn b́nh quân của câu trên toàn thang đo mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm như sau:
* Trường hợp M < 2,98 ta kết luận: Tự đánh giá là ở mức độ dưới trung b́nh, sinh viên có nhu cầu rất cao trong việc rèn luyện và phát triển trí tuệ xúc cảm theo tiêu chí được đánh giá.
* Trường hợp 2,98
M
3,66 ta kết luận: Tự đánh
giá là ở mức độ trung b́nh, sinh viên cần
được rèn luyện thêm và phát triển trí tuệ xúc
cảm theo tiêu chí được đánh giá.
* Trường hợp M > 3,66 ta kết luận: Tự đánh giá là ở mức độ cao, sinh viên có mức độ biểu hiện rất cao về trí tuệ xúc cảm theo tiêu chí được đánh giá.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên kết quả khảo sát về mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm của sinh viên tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được thực hiện trên sự khảo sát các bài trắc nghiệm dùng để đo lường mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm của sinh viên hệ chính quy các lớp Dược 2005, Dược 2006, Dược 2007 thuộc Khoa Dược - Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
Qua thống kê về số lượng và giới tính của sinh viên các lớp tham gia khảo sát, chúng tôi đă thu được những kết quả như sau:
* Tổng số sinh viên tham gia khảo sát: 514
* Lớp:
– Dược 2005: 130
– Dược 2006: 201
– Dược 2007: 183
* Giới tính:
–
– Nữ: 374
Kết
quả chung về các thông số của thang đo mức
độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm
Thang đo mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm đă được khảo sát thử nghiệm trên sinh viên lớp Dược 2007 trước khi tiến hành khảo sát chính thức trên sinh viên hai lớp Dược 2005 và Dược 2006. Qua nghiên cứu các bài trắc nghiệm của sinh viên các lớp tham gia khảo sát, chúng tôi đă rút ra được những kết quả như sau:
|
Các thông số nghiên cứu |
Kết quả về thang đo |
|
Số câu trắc nghiệm |
105 |
|
Số sinh viên làm trắc
nghiệm |
514 |
|
Điểm trung b́nh
toàn bài |
348,88 |
|
Độ lệch tiêu
chuẩn toàn bài |
35,70 |
|
Điểm trung b́nh
b́nh quân của câu |
3,32 |
|
Độ lệch tiêu
chuẩn b́nh quân của câu |
0,34 |
|
Hệ số tin cậy |
0,94 |
Qua kết quả chung về thông số của thang đo mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm cho thấy hệ số tin cậy của thang đo a=0,94 là rất cao. Giá trị này nói lên tính vững chải của thang đo và cho phép kết luận thang đo là đáng tin cậy.
Kết
quả phân tích thang đo theo từng yếu tố năng
lực khác nhau về trí tuệ xúc cảm trên sinh viên
Bảng
1: Kết
quả phân tích các thông số của toàn thang đo theo từng
yếu tố năng lực cảm xúc trí tuệ
|
Yếu tố |
Nội dung |
Điểm trung b́nh |
Độ lệch tiêu chuẩn |
Trung b́nh điều ḥa |
Thứ bậc |
|
Năng lực tự đánh giá bản thân một
cách lạc quan |
23,82 |
3,84 |
3,40 |
8 |
|
|
2 |
Năng lực tự nhận biết xúc cảm của
bản thân |
22,51 |
3,68 |
3,22 |
10 |
|
3 |
Khả năng quyết đoán |
22,24 |
3,84 |
3,18 |
11 |
|
4 |
Tính độc lập |
19,75 |
4,16 |
2,82 |
14 |
|
5 |
Năng lực tự khẳng định ḿnh |
26,04 |
3,66 |
3,72 |
2 |
|
6 |
Khả năng đồng cảm |
24,47 |
3,72 |
3,50 |
5 |
|
7 |
Năng lực thực hiện các trách nhiệm xă hội
|
26,40 |
3,74 |
3,77 |
1 |
|
8 |
Năng lực xây dựng các mối quan hệ liên
nhân cách |
23,93 |
3,82 |
3,42 |
7 |
|
9 |
Khả năng chịu đựng áp lực |
21,61 |
4,24 |
3,09 |
12 |
|
10 |
Năng lực kiểm soát xung tính |
19,73 |
5,06 |
2,81 |
15 |
|
11 |
Năng lực đánh giá đúng thực tiễn |
22,84 |
3,62 |
3,26 |
9 |
|
12 |
Khả năng linh hoạt trong tư duy |
21,17 |
4,50 |
3,03 |
13 |
|
13 |
Năng lực giải quyết vấn đề |
25,67 |
3,84 |
3,67 |
3 |
|
14 |
Khả năng giữ tâm trạng lạc quan |
24,75 |
3,74 |
3,54 |
4 |
|
15 |
Khả năng giữ tâm trạng vui vẻ, hạnh
phúc |
23,98 |
4,28 |
3,43 |
6 |
Qua kết quả của bảng 1, nghiên cứu cho thấy các yếu tố năng lực khác nhau về trí tuệ xúc cảm theo sinh viên tự đánh giá tương ứng với các mức độ đạt được từ cao đến thấp như sau:
1. Năng lực
thực hiện các trách nhiệm
xă hội
2. Năng lực tự khẳng định ḿnh
3. Năng lực giải quyết vấn đề
4. Khả năng giữ tâm trạng lạc quan
5. Khả năng đồng cảm
6. Khả
năng giữ tâm trạng vui vẻ,
hạnh phúc
7. Năng lực xây dựng các mối quan hệ liên nhân cách
8. Năng lực tự đánh giá bản thân một cách lạc quan
9. Năng lực đánh giá đúng thực tiễn
10. Năng lực
tự nhận biết xúc cảm của
bản thân
11. Khả năng quyết đoán
12. Khả năng chịu đựng áp lực
13. Khả năng linh hoạt trong tư duy
14. Tính độc lập
15. Năng lực kiểm soát xung tính
Nh́n chung, tự đánh giá các yếu tố năng lực về trí tuệ xúc cảm của sinh viên là ở mức độ trung b́nh. Tuy nhiên, tự đánh giá tính độc lập và năng lực kiểm soát xung tính có mức độ biểu hiện dưới trung b́nh. Điều này cho phép kết luận sinh viên có nhu cầu cao trong việc rèn luyện và phát triển trí tuệ xúc cảm theo các tiêu chí được đánh giá.
Kết
quả phân tích thang đo theo từng mặt biểu hiện
khác nhau về trí tuệ xúc cảm trên sinh viên
Bảng
2: Kết
quả phân tích các thông số của toàn thang đo theo từng
mặt biểu hiện về trí tuệ
xúc cảm
|
Mặt biểu hiện |
Nội dung |
Điểm trung b́nh |
Độ lệch tiêu chuẩn |
Trung b́nh điều ḥa |
Thứ bậc |
|
1 |
Sự hiểu biết
chính ḿnh |
22,87 |
2,48 |
3,27 |
4 |
|
2 |
Quan hệ với
người khác |
24,93 |
3,19 |
3,56 |
1 |
|
3 |
Kiểm soát, quản
lư stress |
20,67 |
3,09 |
2,96 |
5 |
|
4 |
Khả năng thích ứng
|
23,23 |
2,68 |
3,32 |
3 |
|
5 |
Tâm trạng |
24,36 |
3,51 |
3,49 |
2 |
Qua kết quả của bảng 2, nghiên cứu cho thấy các mặt biểu hiện về trí tuệ xúc cảm theo sinh viên tự đánh giá tương ứng với các mức độ đạt được từ cao đến thấp như sau:
1. Quan hệ với người khác
2. Tâm trạng
3. Khả năng thích ứng
4. Sự hiểu biết chính ḿnh
5. Kiểm soát, quản lư stress
Như vậy, tự đánh giá các mặt biểu hiện về trí tuệ xúc cảm của sinh viên chỉ đạt mức độ trung b́nh, tuy nhiên tự đánh giá về khả năng kiểm soát và quản lư stress là ở mức độ dưới trung b́nh. Điều này chứng tỏ sinh viên cần được rèn luyện thêm và cần được giáo dục để phát triển trí tuệ xúc cảm theo các tiêu chí được đánh giá.
So
sánh sự khác biệt của các mặt biểu hiện về
trí tuệ xúc cảm theo thông số giới tính và thông số
lớp
- Xét trên từng mặt biểu hiện về trí tuệ xúc cảm, nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt ư nghĩa về mặt thống kê giữa nam sinh viên và nữ sinh viên về năng lực xây dựng các mối quan hệ liên nhân cách, và giữa sinh viên các lớp về khả năng thích ứng.
- Tuy nhiên, khi xét trên toàn thang đo, kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt ư nghĩa về mặt thống kê giữa nam sinh viên và nữ sinh viên, và giữa sinh viên các lớp về mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm.
Mối
tương quan giữa các mặt biểu hiện về
trí tuệ xúc cảm
Khi xét mối tương quan giữa các mặt biểu hiện về trí tuệ xúc cảm của sinh viên, kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Tất cả các mặt biểu hiện
năng lực cảm xúc trí tuệ của sinh viên đều
có tương quan hỗ tương có ư nghĩa về mặt
thống kê ở mức xác suất
p < 0,01.
- Xét ở những trị số tương quan r > 0,5 th́ ta thấy có các mặt biểu hiện năng lực cảm xúc trí tuệ đáng quan tâm là:
+ Sự hiểu biết chính ḿnh là mặt biểu hiện chính có tương quan hỗ tương với các mặt biểu hiện về quan hệ liên nhân cách với người khác; kiểm soát và quản lư stress; khả năng thích ứng và tâm trạng với các trị số tương quan lần lượt là 0,756; 0,525; 0,653 và 0,713.
+ Quan hệ với người khác là mặt biểu hiện chính có tương quan hỗ tương với các mặt biểu hiện về khả năng thích ứng và tâm trạng với các trị số tương quan lần lượt là 0,575 và 0,734.
+ Tâm trạng là mặt biểu hiện chính có tương quan hỗ tương với các mặt biểu hiện về sự hiểu biết chính ḿnh; quan hệ với người khác và khả năng thích ứng với các trị số tương quan lần lượt là 0,713; 0,734 và 0,509.
- Tuy nhiên, xét trên toàn thang đo th́ tất cả các mặt biểu hiện về trí tuệ xúc cảm của sinh viên đều có tương quan hỗ tương với độ tin cậy rất cao ở mức xác suất p < 0,01, trong đó các mặt biểu hiện về sự hiểu biết chính ḿnh, quan hệ với người khác và tâm trạng th́ có tương quan rất cao cho thấy mức độ tương quan rất chặt chẽ thể hiện qua các trị số tương quan lần lượt là 0,928; 0,860 và 0,821.
Như vậy, tất cả các mặt biểu hiện về trí tuệ xúc cảm của sinh viên đều có liên quan mật thiết với nhau, có sự tác động tương hỗ lẫn nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến trí tuệ xúc cảm của sinh viên khi xét trên toàn thang đo, đặc biệt là các mặt biểu hiện về sự hiểu biết chính ḿnh, quan hệ với người khác và tâm trạng th́ có sự biểu hiện rơ rệt hơn về mức độ ảnh hưởng đối với các mặt biểu hiện khác về trí tuệ xúc cảm.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm của sinh viên, chúng tôi có thể rút ra những kết luận như sau:
1. Theo các tiêu chí đánh giá mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm của sinh viên mà nghiên cứu đă đề ra, chúng ta nhận thấy rằng sự biểu hiện của các yếu tố năng lực về trí tuệ xúc cảm của sinh viên chỉ ở mức độ trung b́nh.
2. Xét về phương diện giới tính, nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt ư nghĩa về mặt thống kê giữa nam sinh viên và nữ sinh viên về mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm.
3. Mặt khác, khi nghiên cứu sự biểu hiện về trí tuệ xúc cảm của các sinh viên theo các năm học, nghiên cứu cho thấy rằng không có sự khác biệt ư nghĩa về mặt thống kê giữa sinh viên các lớp về mức độ biểu hiện trí tuệ xúc cảm.
4. Về sự tương quan giữa các năng lực cảm xúc trí tuệ, nghiên cứu cho thấy các yếu tố của trí tuệ cảm xúc có tương quan với nhau cao. Do đó, việc giáo dục và phát triển trí tuệ xúc cảm cho sinh viên cần phải được đặc biệt chú trọng ngay từ năm thứ nhất, trong đó tất cả các kỹ năng quan trọng cần thiết cho sự phát triển các năng lực cảm xúc trí tuệ cần được phát triển hài ḥa để nâng cao trí tuệ xúc cảm của sinh viên trong quá tŕnh đào tạo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Phương Kiệt. (2001). Cơ sở Tâm lư học ứng dụng - Tập I. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
2.
Glass V. G.,
3. Goleman D. (2002). Trí tuệ xúc cảm: Làm thế nào để biến những xúc cảm của ḿnh thành trí tuệ. Nhà xuất bản khoa học xă hội. Hà Nội. (Người dịch: Lê Diên).
4. Goleman D. (2007). Trí tuệ xúc cảm: Ứng dụng trong công việc. Nhà xuất bản Tri thức. (Người dịch: Phương Thúy, Minh Phương, Phương Linh).
5. Nguyễn Công Khanh. (2003). Các mô h́nh lư thuyết về trí thông minh xúc cảm. Tạp chí Giáo dục, 61: 14-15.
6. Nguyễn Huy Tú. (2005). Tài năng - Quan niệm, nhận dạng và đào tạo. Nhà xuất bản Giáo dục.
7. Nguyễn Thạc, Phạm Hoàng Nghị. (2007). Tâm lư học sư phạm đại học. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. Hà Nội.
9. Worchel S., Shebilsue W. (2007). Tâm lư học - Nguyên lư và ứng dụng. Nhà xuất bản Lao động - Xă hội. (Người dịch: Trần Đức Hiển).