Nguyễn Duy Phong*, Hồ Văn Hải**
TÓM TẮT
Mở
đầu: Số BN đến
khám và chữa bệnh
tăng huyết áp (THA) tại trung tâm Y tế Huyện Xuyên mộc
– Tỉnh Bà riạ-Vũng
tàu ngày
càng tăng với biến chứng về tim mạch ngày càng. Để giải quyết vấn đề này, cần nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ về hành vi lối sống của bệnh nhân THA để đề xuất giải pháp điều chỉnh lối sống nhằm góp phần trong điều trị cho bệnh nhân THA, đồng thời xây dựng chương tŕnh giáo dục sức khỏe
thích hợp.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các hành vi nguy cơ của bệnh nhân mắc bệnh THA, gồm: hút thuốc lá, uống rượu/bia, ăn mặn, ăn nhiều dầu mỡ, không hoạt động thể lực và mối liên quan giữa hành vi nguy cơ với các đặc tính của bệnh nhân.
Phương
pháp nghiên cứu:
cắt ngang mô tả 300 bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên đến khám, điều trị tại trung tâm Y tế huyện Xuyên Mộc, trong thời gian từ 01/04/2009 đến 30/6/2009.
Kết
quả: Tỉ lệ bệnh nhân THA có các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp được ghi nhận như sau: ăn mặn là 81%, không hoạt động thể lực- 60%, có uống rượu/bia- 55%, hút thuốc lá- 35%, ăn nhiều dầu mỡ- 15%.
Kết
luận: Cần chú ý
tăng cường giáo dục sức
khỏe đối với
Từ khóa: Tăng huyết áp, Hành vi nguy cơ, Huyên Xuyên Mộc – Tỉnh Bà rịa Vũng tàu
ABSTRACT
RISK BEHAVIOR FACTORS OF HYPERTENSION PATIENTS TREATED
AT XUYÊN MỘC HEALTH STATION – BA RIA-
Nguyen Duy Phong, Ho Van Hai
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 168-174
Background: The number of Hypertension Patients is
increasing at Xuyên Mộc Health Station –
Objectives: To evaluate the Risks Behaviour
Factors of Hypertension Patients in Xuyen Moc district-
Methods: The cross-sectional Study of 300 Hypertension Patients treated at Xuyen Moc Health Station –Baria-Vung Tau Province from Aril 1st to June 30th 2009.
Results: The proportion of Risks
Behaviour Factors of Hypertension Patient:salty foods- 81%, not doing physical exercises- 60%, using
alcohol or beer- 55%, smoking- 35%,eating fat foods- 15%.
Conclusion: Establish adequate Health Education Programme for Male, over 65 years old, married or separated, for patients with primary education and housewife.
Keywords: hypertension, risk behavior factors, xuyên mộc district – ba ria-vung tau province
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo số liệu khám, chữa bệnh tại trung tâm Y tế huyện Xuyên Mộc, năm 2001 bệnh THA chiếm 4,2% trong tổng số bệnh nhân khám-điều trị, đến năm 2006 tăng lên 7,4%, trong đó bệnh nhân (BN) có biến chứng nhồi máu cơ tim là 0,48% và tai biến mạch máu năo là 0,52% (11). Số lượng BN THA ngày càng tăng với biến chứng về tim mạch ngày càng nhiều, chi phí cho việc điều trị THA lại rất tốn kém v́ thời gian điều trị kéo dài, trong khi đời sống người dân c̣n rất khó khăn, đây là vấn đề sức khỏe đ̣i hỏi phải được giải quyết kể cả trước mắt và lâu dài. Để giải quyết vấn đề này, cần phải có sự nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ về hành vi lối sống của bệnh nhân THA để đề xuất giải pháp điều chỉnh lối sống nhằm góp phần trong điều trị cho bệnh nhân THA, đồng thời xây dựng chương tŕnh giáo dục sức khỏe thích hợp để pḥng ngừa THA trong cộng đồng.
Mục tiêu nghiên cứu:
+ Xác định tỉ lệ các hành vi nguy cơ của bệnh nhân mắc bệnh THA, gồm: hút thuốc lá, uống rượu/bia, ăn mặn, ăn nhiều dầu mỡ, không hoạt động thể lực.
+ Xác định mối liên quan giữa hành vi nguy cơ với các đặc tính của BN: tuổi, giới, yếu tố kinh tế-xă hội.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết
kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả.
Đối
tượng nghiên cứu
Bệnh nhân từ 18 tuổi
trở lên khám, điều trị tại khoa Khám bệnh-cấp
cứu và khoa Nội tổng hợp, trung tâm Y tế huyện
Xuyên Mộc.
Cỡ
mẫu
Được
tính theo công thức
Với: Z = 1,96 (độ tin cậy 95%)
P = 0,23 (tỉ lệ BN có các hành vi nguy cơ phối hợp là 23%, theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam tại các tỉnh miền Bắc năm 2001-2002).
d = 0,05 (độ chính xác 5%)
Vậy: n = 272, làm tṛn bằng 300.
Kỹ
thuật chọn mẫu
Sử dụng
phương pháp chọn mẫu không xác suất theo thứ
tự BN được chẩn đoán THA từ BN thứ
nhất cho đến khi đủ số BN theo cỡ mẫu.
Tiêu chí chọn mẫu
* Tiêu chí đưa vào: BN hội đủ các tiêu
chí sau:
- Được chẩn đoán THA theo cách đo sau:
+ Nghỉ 5 phút trước khi đo, ngồi trên ghế tựa, bàn chân đặt trên nền nhà, cổ tay để ngang mức tim.
+ Đo hai lần liền, sau đó lấy trị số trung b́nh cộng của 2 lần đo.
- Tuổi: 18 trở lên.
- Đồng ư trả lời phỏng vấn.
* Tiêu chí loại ra:
- BN không đồng
ư trả lời phỏng vấn.
- Có rối loạn
tâm thần hoặc câm điếc.
- Có biến chứng
như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu năo.
- Có bệnh lư
khác kèm theo: đái tháo đường, bệnh nội tiết
khác.
Kiểm
soát sai lệch chọn lựa: dựa vào tiêu chí chọn
mẫu.
Thu thập dữ kiện
Phương pháp thu
thập dữ kiện
Đo huyết áp BN để
chọn vào mẫu và tiến hành phỏng vấn. Nếu BN
được kê đơn điều trị ngoại trú
sẽ được phỏng vấn tại pḥng truyền
thông-giáo dục sức khỏe của khoa Khám bệnh-cấp
cứu, nếu BN được nhập viện điều
trị nội trú sẽ được phỏng vấn tại
khoa Nội tổng hợp.
Công cụ thu thập
dữ kiện:
Huyếp áp kế và Bộ câu hỏi phỏng vấn.
*
Định nghĩa rơ các biến số.
* Chọn
điều tra viên là điều dưỡng trung cấp
nhiệt t́nh, trung thực, có kỹ năng giao
tiếp tốt.
* Tập
huấn điều tra viên để thống nhất về
cách đo huyết áp, cách phỏng vấn và ghi chép bảng
câu hỏi.
*
Điều tra thử để đánh giá tính đồng
bộ của các điều tra viên và hiệu chỉnh
bộ câu hỏi.
*
Giám sát thường xuyên việc thu thập số
liệu của các điều tra viên.
Qua thăm
khám và phỏng vấn 300 BN đến khám
và điều trị tại khoa Khám
bệnh-Cấp cứu và Nội tổng
hợp thuộc trung tâm Y tế huyện Xuyên mộc
trong thời gian từ 01/04/2009 đến 30/6/2009,
chúng tôi ghi nhận được các kết
quả như sau:
Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu:
Tất cả
các xă, thị trấn trên địa bàn huyện đều
có BN THA, trong đó, một số địa phương có
tỉ lệ BN đến khám nhiều hơn địa
phương khác, như: thị trấn Phước Bửu
(29%), xă Xuyên Mộc (16%), xă Phước Tân (16%). Trong mẫu
nghiên cứu, BN nam nhiều hơn nữ. Không có BN ở
nhóm tuổi 18-24 và 25-34, trong các nhóm tuổi c̣n lại, bệnh
nhân ở nhóm tuổi trên 64 chiếm nhiều nhất (56%).
Đa số bệnh nhân (89%) có chỉ số BMI < 25, không
có bệnh nhân có BMI > 30. Bệnh nhân THA giai đoạn 2
nhiều hơn giai đoạn 1. Bệnh nhân đang có vợ,
chồng chiếm tỉ lệ 66,7%, độc thân và ly dị
chiếm tỉ lệ thấp (2%). Có 63,3% bệnh nhân có
tŕnh độ học vấn từ trung học cơ sở
trở xuống. BN là người hưu trí chiếm 33%, nghề
khác 23%, nông dân 20%, công chức-viên chức 11%, ngư dân chiếm
tỉ lệ thấp nhất (2%). Hầu hết BN (97%) có
thu nhập gia đ́nh/tháng dưới 5.000.000 đồng.
Các hành vi nguy cơ của bệnh nhân THA:
Bảng 1: Tần
số và tỉ lệ
BN phân bố theo hành vi nguy cơ gây bệnh cao huyết áp
|
|
Hành
vi nguy cơ |
Tần
số |
Tỉ
lệ (%) |
|
Hút thuốc lá |
Có |
106 |
35 |
|
Không |
194 |
65 |
|
|
Uống rượu
bia |
Có |
165 |
55 |
|
Không |
135 |
45 |
|
|
Ăn mặn |
Có |
243 |
81 |
|
Không |
57 |
19 |
|
|
Ăn nhiều dầu,
mỡ |
Có |
44 |
15 |
|
Không |
256 |
85 |
|
|
Hoạt động thể
lực |
Có |
119 |
40 |
|
Không |
181 |
60 |
Bảng 2: Tần
số và tỉ lệ
BN phân bố theo mức độ
các hành vi nguy cơ gây bệnh cao huyết áp
|
|
Mức
độ các hành vi nguy cơ |
Tần
số |
Tỉ
lệ (%) |
|
Hút thuốc lá |
Hút ít |
21 |
20 |
|
Hút vừa |
64 |
60 |
|
|
Hút nhiều |
21 |
20 |
|
|
Uống rượu
bia |
Uống ít |
102 |
62 |
|
Uống vừa |
54 |
33 |
|
|
Uống nhiều |
9 |
5 |
|
|
Ăn dầu, mỡ |
Ít |
26 |
9 |
|
Vừa |
230 |
77 |
|
|
Nhiều |
44 |
14 |
|
|
Hoạt động thể
lực |
Không |
130 |
43 |
|
Ít |
51 |
17 |
|
|
Thường xuyên |
119 |
40 |
Liên quan giữa hành vi nguy cơ và đặc tính của bệnh nhân
Về giới
tính, sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa tỉ
lệ hút thuốc lá ở nam (93%) và tỉ lệ hút thuốc
lá ở nữ (7%) với p < 0,001. Nam hút thuốc lá nhiều
hơn 7,5 lần so với nữ với PR = 7,47 (KTC 95%
4,36-11,52). Bên cạnh đó, về yếu tố nghề
nghiệp, có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê giữa
tỉ lệ hút thuốc lá ở nhóm bệnh nhân có nghề
nghiệp là nội trợ (65%) so với nhóm công chức-viên
chức (39%) với p = 0,013. Nhóm nội trợ hút thuốc
lá gấp 5 lần so với nhóm công chức-viên chức với
PR = 5,06 (KTC 95% 1,78-12,01).
Các yếu tố còn lại không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3: Liên quan giữa uống rượu/bia và đặc tính bệnh nhân.
|
Đặc tính |
Uống rượu/bia |
P |
PR (KTC 95%) |
|
|
Có n (%) |
Không n (%) |
|||
|
Giới tính |
|
|
|
|
|
Nữ |
12 (9) |
120 (91) |
|
|
|
|
153 (91) |
15 (9) |
< 0,001 |
8,34 (5,17-13,47) |
|
Học vấn |
|
|
|
|
|
Chưa xong tiểu học |
5 (28) |
13 (72) |
|
1 |
|
Tiểu học |
14 (31) |
31 (69) |
0,795 |
1,17 (0,35-3,93) |
|
Trung học cơ sở |
67 (53) |
60 (47) |
0,055 |
2,90 (0,97-8,62) |
|
Phổ thông trung học |
58 (70) |
25 (30) |
0,002 |
6,03 (1,94-18,73) |
|
Đại học, cao
đẳng, THCN |
21 (78) |
6 (22) |
0,002 |
9,10 (2,30-35,94) |
|
Nghề nghiệp |
|
|
|
|
|
CC-VC |
21 (64) |
12 (36) |
|
1 |
|
Công nhân |
10 (63) |
6 (37) |
0,938 |
0,95 (0,27-3,27) |
|
Nông dân |
41 (69) |
18 (31) |
0,566 |
1,30 (0,53-3,20) |
|
Ngư dân |
3 (50) |
3 (50) |
0,531 |
0,57 (0,10-3,29) |
|
Nội trợ |
2 (12) |
15 (88) |
0,002 |
0,07 (0,01-0,39) |
|
Nghề khác |
24 (35) |
45 (65) |
0,007 |
0,30 (0,12-0,72) |
|
Hưu trí |
64 (64) |
36 (36) |
0,970 |
1,01 (0,44-2,30) |
Bảng 4: Liên quan giữa ăn mặn và đặc tính BN.
|
Đặc tính |
An mặn |
P |
PR (KTC 95%) |
|
|
Có n (%) |
Không n (%) |
|||
|
Học vấn |
|
|
|
|
|
Chưa xong tiểu học |
4 (22) |
14 (78) |
|
1 |
|
Tiểu học |
34 (76) |
11 (24) |
< 0,001 |
10,81 (2,94-39,80) |
|
Trung học cơ sở |
106 (83) |
21 (17) |
< 0,001 |
17,66 (5,29-58,99) |
|
Phổ thông trung học |
75 (90) |
8 (10) |
< 0,001 |
32,81 (8,68-123,93) |
|
Đại học, cao
đẳng, THCN |
24 (89) |
3 (11) |
< 0,001 |
28,00 (5,45-143,71) |
Bảng 5: Liên quan giữa ăn nhiều dầu mỡ và đặc tính bệnh nhân.
|
Đặc tính |
Ăn nhiều dầu mỡ |
P |
PR (KTC 95%) |
|
|
Có n (%) |
Không n (%) |
|||
|
Hôn nhân |
|
|
|
|
|
Độc thân |
0 (0) |
6 (100) |
|
|
|
Có vợ chồng |
28 (14) |
172 (86) |
<0,001 |
1,89 (1,05-2,71) |
|
Ly dị |
2 (33) |
4 (67) |
< 0,001 |
3,33 (2,05-5,56) |
|
Góa |
14 (16) |
74 (84) |
|
1 |
|
Học vấn |
|
|
|
|
|
Chưa xong tiểu học |
0 (0) |
18 (100) |
|
|
|
Tiểu học |
7(16) |
38 (84) |
< 0,001 |
2,53 (1,36-4,13) |
|
Trung học cơ sở |
21 (17) |
106 (83) |
< 0,001 |
2,32 (1,47-3,67) |
|
Phổ thông trung học |
10 (16) |
73 (84) |
< 0,001 |
1,91 (1,29-2,81) |
|
Đại học, cao
đẳng, THCN |
6 (22) |
21 (78) |
|
1 |
Đặc tính mẫu nghiên cứu
300 BN được đưa vào khảo sát cư ngụ tại tất cả các xă, thị trấn trong huyện, tuy nhiên thị trấn Phước Bửu và các xă cách trung tâm Y tế huyện dưới 5 km có BN đến khám nhiều hơn các xă khác, là do thuận tiện hơn trong việc đi lại.
BN THA tăng theo nhóm tuổi, trong đó nhóm tuổi > 64 chiếm 56%. Đa số BN THA có chỉ số khối cơ thể ở mức b́nh thường (89%), số c̣n lại ở mức thừa cân (11%), không ghi nhận BN có tŕnh trạng béo ph́. Kết quả này khác với nghiên cứu ở những nơi khác: Doăn Thị Tường Vi, Phạm Quang Cử nghiên cứu tại bệnh viện 19/8 (2001) cho kết quả là người thừa cân, béo ph́ bị THA gấp 3,7 lần người không thừa cân (2);
Các đặc tính về kinh tế xă hội: BN THA là người đang có vợ, chồng (67%) nhiều hơn nhóm không có vợ, chồng (độc thân, ly dị, góa). BN có tŕnh độ học vấn chưa xong tiểu học chiếm tỉ lệ thấp thấp nhất (6%), tuy nhiên, gần 2/3 BN tăng THA có tŕnh độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống. BN là người hưu trí chiếm tỉ lệ cao nhất trong các nhóm nghề nghiệp (33%), tương đương với tổng cộng các nhóm nghề nghiệp làm việc chân tay gồm: công nhân, nông dân, ngư dân, nội trợ. Có thể do tuổi càng cao th́ tỉ lệ mắc THA càng tăng. Hầu hết BN (97%) có mức sống trung b́nh trở xuống (thu nhập gia đ́nh dưới 5.000.000 đồng/tháng). Điều này được lư giải do đời sống khó khăn thường đi kèm với bệnh tật.
Các hành vi nguy cơ của bệnh nhân THA
Trong mẫu nghiên cứu, BN có hành vi nguy cơ gồm: hút thuốc lá, uống rượu bia, ăn mặn, ăn nhiều dầu mỡ và ít hoạt động thể lực. Kết quả này cũng tương tự như các nghiên cứu về yếu tố liên quan với THA ở những nơi khác. Nghiên cứu của tác giả Phạm Gia Khải và cộng sự ở vùng đồng bằng Thái B́nh (2002), các yếu tố nguy cơ có liên quan gồm: hút thuốc lá, uống rượu, ăn mặn (7). Lawrence J. nghiên cứu cắt ngang ở Trung Hoa cho thấy người uống nhiều rượu (³ 30 lần/tuần) có nguy cơ THA gấp 2 lần so với người không uống rượu (3). Tuy nhiên, ở mẫu nghiên cứu này cũng ghi nhận những điểm sau: BN không hút thuốc lá (65%) chiếm tỉ lệ cao hơn BN có hút thuốc lá: bệnh nhân THA không hút thuốc lá là nữ giới chiếm 42% trong tổng số BN (bảng 2). BN không uống rượu/bia chiếm tỉ lệ 45%: BN THA không uống rượu/bia là nữ giới chiếm 40% trong tổng số BN (bảng 1). BN có ăn mặn chiếm 81% (bảng 1), BN ăn nhiều dầu mỡ chiếm 15% (bảng 1). Điều này được lý giải là do đời sống khó khăn, thu nhập thấp nên chế độ ăn chưa hợp lư, có thói quen ăn mặn và không có thói quen ăn nhiều dầu mỡ.
Mối liên quan giữa hành vi nguy cơ và đặc tính của bệnh nhân
* Hút thuốc lá: BN nam có hút thuốc lá gấp 7,5 lần so với nữ, điều này cũng phù hợp với t́nh trạng chung trong xă hội. Thói quen hút thuốc lá khá phổ biến ở các nhóm tuổi, tuổi càng cao th́ tỉ lệ hút thuốc lá càng tăng, tuy nhiên sự khác biệt không có ư nghĩa thống kê.
* Tŕnh độ học vấn của BN càng
cao th́ tỉ lệ hút thuốc lá càng giảm, điều
này cũng phù hợp với xă hội hiện nay. Tuy nhiên, sự
khác biệt chỉ có ư nghĩa thống kê giữa nhóm BN có
tŕnh độ học vấn đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp và nhóm BN có học vấn chưa
xong
tiểu học.
So với nhóm BN có nghề nghiệp là công chức-viên chức, nhóm công nhân, nông dân, ngư dân có tỉ lệ hút thuốc lá ít hơn, nhưng sự khác biệt này không có ư nghĩa thống kê. Nhóm nghề nghiệp khác hút thuốc lá gấp 1,5 lần và nhóm hưu trí hút thuốc lá gấp 1,8 lần so với nhóm công chức-viên chức nhưng sự khác biệt không có ư nghĩa thống kê. Chỉ có nhóm nội trợ hút thuốc lá gấp 5 lần so với nhóm công chức-viên chức có ư nghĩa thống kê, sự khác biệt này có thể do nữ công chức-viên chức không hút thuốc lá.
BN có thu nhập gia đ́nh cao hơn có thói quen hút thuốc lá nhiều hơn so với BN có thu nhập gia đ́nh thấp hơn. Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê về tỉ lệ hút thuốc lá giữa các nhóm.
* Uống rượu/bia: Không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê về tỉ lệ uống rượu/bia ở các nhóm tuổi, ở nhóm BN ly dị, nhóm góa và nhóm độc thân. Tỉ lệ uống rượu/bia ở nhóm BN có vợ, chồng khá cao (70%) và gấp 11,7 lần so với nhóm độc thân, do điều kiện sống, làm việc của người độc thân kém ổn định hơn nên chi tiêu ít hơn và nhu cầu sử dụng rượu/bia cũng ít hơn.
BN có tŕnh độ học vấn càng cao th́ tỉ lệ uống rượu/bia càng tăng. So với nhóm chưa xong tiểu học, nhóm có tŕnh độ phổ thông trung học uống rượu/bia gấp 6 lần và nhóm đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp gấp 9 lần. Điều này được giải thích do điều kiện sống và làm việc, nguời có học vấn cao sẽ dễ có công ăn việc làm ổn định và nhu cầu giao tiếp trong xă hội cao hơn.
Tỉ lệ uống rượu/bia ở nhóm BN là công nhân, nông dân, ngư dân, hưu trí và nhóm công chức-viên chức không có sự khác biệt, nhưng so với nhóm BN có nghề nghiệp khác và nội trợ th́ tỉ lệ uống rượu/bia ở nhóm công chức-viên chức cao hơn.
Như vậy, thói quen uống rượu/bia của BN khá phổ biến, cần được quan tâm nhiều hơn.
* Ăn mặn: Tỉ lệ BN có ăn mặn rất cao. Không có sự khác nhau về tỉ lệ ăn mặn giữa BN nam và nữ, giữa các nhóm tuổi và t́nh trạng hôn nhân. BN có tŕnh độ học vấn càng cao th́ thói quen ăn mặn càng tăng. Thói quen ăn mặn không khác nhau giữa các nhóm nghề nghiệp và thu nhập gia đ́nh.
* Ăn nhiều dầu mỡ: Tỉ lệ BN ăn nhiều dầu mỡ thấp (bảng 1). Không có sự khác biệt và tỉ lệ ăn nhiều dầu mỡ ở BN nam và nữ, giữa các nhóm tuổi. Nhóm BN có vợ, chồng, ly dị ăn nhiều dầu mỡ hơn so với nhóm góa.
BN có tŕnh độ học vấn càng thấp th́ tỉ lệ ăn nhiều dầu mỡ càng tăng do nhận thức của BN có tŕnh độ học vấn cao tốt hơn.
So với nhóm BN có nghề nghiệp là công chức-viên chức, chỉ có nhóm hưu trí có tỉ lệ ăn nhiều dầu mỡ thấp hơn. Không có sự khác biệt về thói quen ăn nhiều dầu mỡ giữa các nhóm thu nhập.
* Hoạt động thể lực: Tỉ lệ bệnh nhân không hoạt động thể lực c̣n cao (bảng 2). BN nam có hoạt động thể lực thường xuyên hơn so với nữ, có thể do bản chất của giới và ảnh hưởng của nghề nghiệp.
Các
hành vi nguy cơ của bệnh nhân THA BN THA có ăn mặn
chiếm tỉ lệ 81%; không hoạt động thể lực
: 60%; có uống rượu/bia: 55%; có hút thuốc lá: 35%
và ăn nhiều dầu mỡ:
15%.
Mối liên quan giữa hành vi nguy
cơ và đặc tính của bệnh nhân:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Đào
Thu Giang, Nguyễn Kim Thủy
(2006). “T́m hiểu mối
liên quan giữa thừa
cân, béo ph́ với tăng
huyết áp nguyên phát”. Tạp chí Y học thực hành, tập 542 (5), tr. 12-14.
2.
Doăn
Thị
Tường
Vi, Phạm
Quang Cử
(2006). “Tỉ
lệ
tăng
huyết
áp và mối
liên quan với
t́nh trạng
dinh dưỡng
ở
người
trưởng
thành 20-70 tuổi
tại
bệnh
viện
19/8 năm
2000-2001”. Tạp chí dinh dưỡng
và thực phẩm,
tập
2 (3), tr. 100-103.
3.
4. Lorna Aucott; Amudha Poobalan; W. Cairns S. Smith ; et al (2005). “Effects of Weight Loss in Overweight/Obese Individuals and Long- Term Hypertension Outcomes”. Hypertension, 45, p.1035.
5.
Phạm
Gia Khải, Nguyễn Lân Việt, Đỗ Quốc
Hùng, Nguyễn Thị Bạch Yến
(1998). “Đặc điểm dịch
tễ học bệnh tăng
huyết áp tại Hà Nội”. Tạp chí tim mạch học, (số 16), tr. 258-282.
6.
Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt, Phạm Thái Sơn, Nguyễn Ngọc Quang và cộng sự (2002). “Dịch tễ tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ ở vùng đồng bằng Thái B́nh”. Tạp chí Tim mạch học, (số 32). tr. 11-18.
7.
Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt, Phạm Thái Sơn, Nguyễn Ngọc Quang và cộng sự (2003). “Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ ở một số tỉnh thuộc khu vực phía Bắc Việt Nam 2001-2002”. Tạp chí Tim mạch học, (số 33). tr. 9-34.
8.
Phạm Hùng Lực (2006).
“Bệnh tăng huyết áp và các yếu tố liên quan ở tuổi 15-75 tại đồng bằng sông Cửu Long”. Báo cáo khoa học hội nghị
khoa học kỹ thuật y tế công cộng và y học dự pḥng, Viện Vệ sinh-Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh, tr. 73-81.
9.
Phạm
Thị Vân Anh, Đặng Kim Thanh (2008). “Nghiên
cứu một số yếu
tố nguy cơ ở bệnh
nhân tăng huyết áp nguyên phát”. Tạp chí Y học Việt
10. Trung tâm Y tế huyện Xuyên Mộc (2007). Báo cáo hoạt động năm 2006, tr. 4-5.
11. Vũ Đ́nh Hải (2003). “JNC VII với thực hành điều trị tăng huyết áp”. Tạp chí Thông tin y dươc, Viện Thông tin thư viện y học Trung ương, số 12, tr. 12-15.
12. World Health Organization (2003). Global strategy on diet, physical activity and health. Cardiovascular diseas, pp. 2-4
* Đại
học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh ** Trung tâm Y tế huyện Xuyên Mộc - tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu
Địa chỉ liên hệ: PGS.TS Nguyễn
Duy Phong ĐT: 0913155993 Email: nguyenduyphongvn@yahoo.com