Trương Phước
Sở*, Tô Vĩnh Ninh*, Phạm Dũng Nghiệp*, Hồ
Thái Sơn*,
Nguyễn Minh Bằng*
Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ chấn thương sọ năo từ khi Nghị định 32/2007/NQ-CP có hiệu lực. Mức độ nghiêm trọng của chấn thương sọ năo sau Nghị định.
Phương pháp & đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán bị chấn thương đầu do tai nạn giao thông khi đi xe gắn máy có hoặc không có đội nón bảo hiểm vào khám tại khoa cấp cứu từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2008
Kết quả: Qua điều tra trên 658 bệnh nhân được chẩn đoán bị chấn thương đầu do tai nạn giao thông khi đi xe gắn máy có hoặc không có đội nón bảo hiểm vào khám tại khoa Cấp Cứu trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2008, chúng tôi ghi nhận đa số bệnh nhân nhận viện là bệnh nhân trẻ (tuổi trung b́nh là 30,9 ± 14,4 tuổi) mà tập trung phần lớn vào nhóm tuổi 18 -25 tuổi, nam giới chiếm đa số các trường hợp (66,5%). Tỷ lệ các trường hợp không đội nón bảo hiểm c̣n cao (23,2%), trong số những hợp trường hợp có đội nón th́ tỷ lệ nón rơi ra khỏi đầu cao (26,2%). Tỷ lệ chấn thương sọ năo trong thời gian khảo sát từ sau khi Nghị quyết 32 chính thức có hiệu lực và đi vào cuộc sống giảm so với cùng kỳ năm trước. Đa số bệnh nhân chấn thương sọ năo ở mức độ tổn thương nhẹ được chẩn đoán là chấn thương đầu và cấp toa kèm tờ theo dơi ở nhà (81,7%), tỷ lệ có tổn thương trên phim CT sọ thấp (18,2%), tỷ lệ tử vong 2,0%. Khi thống kê phân tích th́ có sự khác biệt giữa tỷ lệ có tổn thương trên CT ở nhóm có đội nón bảo hiểm và nhóm không đội nón bảo hiểm có ư nghĩa thống kê (OR = 1,97; p < 0,01).
Từ khóa: Chấn thương đầu, kẹt xe, mủ bảo hiểm.
SURVEY
ABOUT HEAD INJURY DUE TO TRAFFIC ACCIDENT IN HO
Truong
Phuoc So, To Vinh Ninh, Pham Dung Nghiep, Ho Thai Son, Nguyen Minh Bang
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 6 -
2009: 319 - 327
Objective:
Rate of head injury in time when the resolution 32/2007/NQ-CP had done, The level of brain injury of
patents when this resolution had done.
Method: This is a prospective study, The surveillance of all head trauma
patients cause of traffic jam, had or not protected hat in Emergency department
of Nhan Dan Gia Dinh hospital for 12 months (1– 12/2008).

Results: The
surveillance of 658 head trauma patients cause of traffic jam, had or not
protected hat in Emergency department of Nhan Dan Gia Dinh hospital for 12
months (1– 12/2008) showed that almost patients are young patients (mean ages
is 30.9 ± 14,4 year) improved in 18–25 group, male was twice higher than
female. There were 20.3% patients hadn’t wore protected hat, in cases had wore
protected hat there were 26.2% the protected hat out of the head after
accidents. Rate of head injury in time- when the study has done decreased.
Almost patients in this study were mild head injury (81.7%), 18.2% had brain
injury, dead was 2%. When comparative analysis between the two groups had or
not wear protected hat, there were identify different between them at level
brain injury in the CT (OR = 1,97; p < 0,01).
Key words: Head trauma, Traffic jam, Protected hat
Chấn thương sọ năo gây ra những
nguy cơ đáng sợ và nặng nề như: chảy máu
bên trong hộp sọ, năo bị dập nát, sưng phù chất
năo làm thể tích gia tăng trong khi hộp sọ không c̣n khả
năng giăn nở, máu không tới nuôi năo. Điều
đáng sợ nhất của chấn thương sọ
năo là để lại hậu quả nặng nề, có thể
gây tử vong tại chỗ, trên đường di chuyển
đến bệnh viện hoặc bị chấn
thương quá nặng, không c̣n khả năng cứu chữa.
Tổn thương này có thể để lại các di chứng
lâu dài như đau đầu, co giật, giảm trí nhớ,
rối loạn tiếng nói, run tay(8).
Tai nạn giao thông đă trở thành nguy cơ đe doạ
sức khoẻ và tính mạng cộng đồng lớn nhất
ở châu á-Thái B́nh Dương, với hơn 10 triệu
người bị thương và thiệt mạng mỗi
năm, Thông tin này được Tổ chức Y tế thế
giới (WHO) khu vực Tây Thái B́nh Dương đưa ra
ngày 5/4/2004(4).
WHO dự báo nếu xu hướng hiện nay c̣n tiếp
tục duy tŕ, tai nạn giao thông sẽ trở thành nguyên
nhân gây hại cho sức khoẻ con người đứng
hàng đầu thế giới vào năm 2020, chỉ sau bệnh
đau tim và trầm cảm. Khi đó số người chết
và thương tật do tai nạn giao thông sẽ tăng
hơn 60% hiện nay. Đằng sau nỗi đau thể
xác, tinh thần, tai nạn giao thông c̣n tác động mạnh
tới xă hội. Thống kê cho thấy hơn nửa số
nạn nhân có độ tuổi từ 15-44, độ tuổi
tốt đẹp nhất để con người lao
động, nuôi sống bản thân, gia đ́nh và cộng
đồng. Sự ra đi của họ ảnh hưởng
mạnh tới sự cân bằng trong gia đ́nh và xă hội.
Trên b́nh diện toàn cầu, tai nạn giao thông đang là
thủ phạm cướp đi mạng sống hơn 1,2
triệu người mỗi năm. Bên cạnh đó có từ
20-50 triệu người bị thương tật, nhiều
người trở thành tàn phế. Song đa phần những
người thương tật và cái chết là thảm kịch
cá nhân, thường không thu hút nhiều lắm sự chú ư của
giới truyền thông, Đó cũng là lư do tại sao WHO tổ
chức ngày sức khoẻ thế giới (7/4) năm nay với
chủ đề an toàn giao thông(7).
Tất nhiên, tất
cả những mất mát này có khả năng ngăn chặn,
bằng cách giảm bớt nguy hiểm khi tham gia giao thông,
LHQ khuyến cáo các nước tăng cường những
yêu cầu sau:
Giảm tốc: tốc
độ chiếm 30% nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn và
cái chết. Mỗi km/h tăng thêm từ mốc an toàn sẽ
tăng 3% nguy cơ xảy ra tai nạn hoặc 5% nguy cơ
tử vong.
Nghiêm cấm điều
khiển phương tiện khi say rượu.
Đội mũ bảo
hiểm: Chấn thương đầu là nguyên nhân chính gây
nên tử vong ở những tài xế lái xe hai bánh. Cần
khuyến cáo người dân sử dụng mũ bảo hiểm
ở các nước sử dụng nhiều xe máy(4).
Từ sau Nghị
quyết 32, trung b́nh số tai nạn giao thông nhập viện
giảm 14 bệnh nhân mỗi tháng, chủ yếu là bệnh
nhân chấn thương vùng đầu giảm đến
13.
Kể từ khi Nghị
quyết 32 chính thức có hiệu lực và đi vào cuộc
sống, với sự triển khai mạnh mẽ của tất
cả các ban ngành và địa phương trong cả
nước, t́nh h́nh trật tự ATGT đă có bước
chuyển rơ rệt. Nếu như 6 tháng đầu năm,
TNGT và số người chết gia tăng nghiêm trọng,
tháng sau tăng cao hơn tháng trước th́ trong 3 tháng gần
đây, TNGT liên tục giảm cả 3 mặt(3).
Vậy để khảo
sát t́nh trạng chấn thương sọ năo trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh khu vực phía Đông
Khảo sát tỷ lệ
chấn thương sọ năo từ khi có quy định
đội nón bảo hiểm.
Mức độ
nghiêm trọng của chấn thương sọ năo từ
khi có quy định đội nón bảo hiểm.
Mô tả cắt ngang
Tất cả bệnh nhân được chẩn
đoán bị chấn thương đầu do tai nạn
giao thông khi đi xe gắn máy có hoặc không có đội
nón bảo hiểm vào khám tại khoa Cấp Cứu.
12 tháng từ tháng 1
đến tháng 12 năm 2008
Tất cả bệnh
nhân được chẩn đoán chấn thương
đầu do tai nạn giao thông khi đi xe gắn máy có hoặc
không có đội nón bảo hiểm đều được
bác sỹ cấp cứu tiếp nhận đánh giá toàn diện
qua:
- Hỏi kỹ về
việc điều khiển xe máy, cơ chế đụng
xe.
- Đội nón hay
không đội nón bảo hiểm, ví trí nón bảo hiểm
ngay sau khi xảy ra tai nạn.
- Thăm khám toàn diện
phát hiện những tổn thương, sang thương ở
đầu và các nơi khác trong cơ thể, đánh giá tri
giác theo thang điểm Glassgow.
- Chỉ định
chụp CT ở những trường hợp có điểm
Glassgow thấp, hay qua theo dơi phát hiện diễn tiến nặng
lên. Sau đó bệnh nhân được xử trí theo các
hướng phù hợp với bệnh cảnh lâm sàng và tổn
thương trên CT sọ.
Số liệu được thu thập
đầy đủ, xử lư, phân tích dựa trên phần
mềm Epi-info phiên bản 2000.
Bảng 1: Phân bố bệnh
nhân theo giới
|
Giới |
n |
% |
|
|
|
437 |
66,5% |
|
|
Nữ |
221 |
33,5% |
|
|
Tổng |
658 |
100,0% |
|
Trong 658 trường
hợp, có 437 trường hợp là nam giới chiếm
66,5% gấp đôi nữ giới.
Tuy tỷ lệ tham
gia giao thông là gần như bằng nhau giữa hai giới,
nhưng hành vi tham gia giao thông của nam giới tiềm ẩn
nhiều mối nguy hiểm như: uống rượu,
bia, liều lĩnh, thích tốc độ…
Những nghiên cứu
khác cũng cho cùng kết quả, Nghiên cứu của Bùi Thị
Thắm về t́nh h́nh tai nạn giao thông đường bộ
trên thành phố Đà Nẵng th́ tỷ lệ nam nữ là
2:1(5).
Bảng 2: Phân bố
bệnh nhân theo tuổi
|
Nhóm tuổi |
|
% |
Nữ |
% |
Tổng |
% |
|
< 18 |
30 |
6,9 |
24 |
10,9 |
54 |
8,2 |
|
18-25 |
183 |
41,9 |
81 |
36,7 |
264 |
40,1 |
|
26-35 |
100 |
22,9 |
42 |
19,0 |
142 |
21,6 |
|
36-45 |
65 |
14,9 |
25 |
11,3 |
90 |
13,7 |
|
46-55 |
37 |
8,5 |
32 |
14,5 |
69 |
10,5 |
|
> 55 |
22 |
5,0 |
17 |
7,7 |
39 |
5,9 |
|
Tổng |
437 |
100, |
221 |
100 |
658 |
100, |
|
30,9 ± 14,4 (6-85) |
||||||
Tuổi trung b́nh của
các bệnh nhân là 30,9 ± 14,4 tuổi, trong đó bệnh nhân nhỏ
tuổi nhất là 1 tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất
là 85 tuổi.
Nhóm tuổi từ
18 đến 35 tuổi chiếm đa số hơn 60% số
trường hợp, trong đó nhóm từ 18 đến 25
tuổi lại chiếm đa số hơn 40% trên tổng
số bệnh nhân.
Hai nhóm tuổi
dưới 18 và trên 55 tuổi chiếm tỷ lẹ thấp
lần lược là 8,2%; 5,9%.
Tuổi trung b́nh của
các bệnh nhân chấn thương đầu do tai nạn
giao thông tương đối trẻ 30,9 ± 14,4 tuổi.
Đặc biệt nhóm tuổi từ 18 – 25 tuổi chiếm
tỷ lệ cao hơn 40%, điều này càng nói lên tính cấp
thiết về giáo dục về hành vi tham gia giao thông, chấp
hành luật giao thông trong giới trẻ.
Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu
đánh giá t́nh h́nh tai nạn giao thông nhập bệnh viện
ND 115 dựa trên số liệu ghi nhận từ 1/1/2004
đến 31/8/2008, trong nghiên cứu này tuổi trung b́nh là
35,5 tuổi. Cũng tương tự nghiên cứu của
Bùi Thị Thắm về t́nh h́nh tai nạn giao thông
đường bộ trên thành phố Đà Nẵng th́
đa số những bệnh nhân tai nạn giao tập trung
trong độ tuổi từ 18 đến 35 tuổi (chiếm
68,5%)(3)(5).

H́nh 1: Phân bố bệnh
nhân theo tuổi và giới,
Bảng 3: Phân bố
bệnh nhân theo điều khiển xe
|
Điều khiển xe |
n |
% |
|
Có |
501 |
76,1 |
|
Ngồi sau xe |
157 |
23,9 |
|
Tổng |
658 |
100,0 |
Tỷ lệ những
bệnh nhân không trực tiếp điều khiển xe máy
chiếm 23,9%.
Bảng 4: Phân bố
bệnh nhân theo đội nón bảo hiểm
|
Đội nón bảo hiểm |
n |
% |
|
Có |
480 |
72,8 |
|
Không |
178 |
23,2 |
|
Tổng |
658 |
100,0% |
Số trường
hợp không đội nón bảo hiểm khi tham gia lưu
thông chiếm tỷ lệ 23,2%, Con số trên 23% số
trường hợp chấn thương đầu không
đội nón bảo hiểm cũng đủ nói lên ư thức
của người dân về phương tiện bảo vệ
có giá trị này c̣n hờ hững, đặt biệt là dân ở
ngoại thành thành phố. Đă hơn 2 tháng kể từ
lúc nghị quyết 32/2007/nq-cp đi vào cuộc sống th́
ư của người dân nhất là ở khu vực ngoại
thành vẫn chưa cao. Thực trạng này cũng có thể
thấy ở những địa phương khác trong cả
nước, trong 821 ca chấn thương sọ năo vào Bệnh
viện Việt Đức từ 15/12/2007 đến nay, gần
600 người có đội mũ bảo hiểm. Số
người chấn thương năo có mũ tăng so với
những ngày mới bắt buộc đội(3).
Trong sáng 14/1, khoa Cấp
cứu tiếp nhận 6 bệnh nhân th́ 5 người có
đội mũ bảo hiểm, nhưng mũ văng khỏi
đầu khi tai nạn xảy ra. Ông Nguyễn Vũ Khuê,
đại diện Ủy ban An toàn giao thông TP HCM cho biết,
hiện gần 99% người tham gia giao thông tại nội
thành TP HCM đă đội mũ bảo hiểm khi đi xe
máy. C̣n ở ngoại thành, nhiều người đội
mũ một cách hờ hững để không bị phạt
chứ không ư thức được giá trị của
phương tiện bảo vệ này(3).

H́nh 2: Phân bố bệnh
nhân theo t́nh trạng đội nón bảo hiểm,
Bảng 5: Phân bố
bệnh nhân theo cơ chế đụng xe
|
Cơ chế đụng xe |
N |
% |
|
Xe
tải |
18 |
2,7% |
|
Xe
ô tô |
41 |
6,2% |
|
Xe
máy |
420 |
63,9% |
|
Tự
ngă |
135 |
20,5% |
|
Khác
(xe đạp, ba gác, không rơ…,) |
44 |
6,6% |
|
Tổng
|
658 |
100,0% |
Trong nghiên cứu của
chúng tôi, cơ chế đụng xe chủ yếu là xe máy
đụng xe máy chiếm gần 64%, tiếp đó là tự
ngă chiếm 20,5%.
Những trường
hợp tai nạn xảy ra do xe máy đụng vào ô tô, xe tải
hay ngược lại chiếm tỷ lệ nhỏ lần
lược là 2,7%; 6,2%.
Tỷ lệ cao
trong cơ chế đụng xe là xe máy đụng xe máy
điều này nói lên thực trạng giao thông của thành
phố: đa số phương tiện tham gia giao thông là
xe gắn máy, t́nh trạng chưa chấp hành tốt các luật
giao thông, các lỗi vi phạm như: phóng nhanh, vượt ẩu,
lấn tuyến, lái xe trong t́nh trạng say rượu vẫn
là những vấn đề lớn trong công tác bảo vệ
an toàn giao thông đường bộ.
Ở đây số
trường hợp tự ngă chiếm tỷ lệ khá cao
hơn 20% điều này như gián tiếp nói lên thực trạng
t́nh trạng uống bia rượu trong tham gia giao thông
cũng đang c̣n phổ biến.
Bảng 6: Phân bố
bệnh nhân theo vị trí nón ngay sau tai nạn
|
Vị trí nón bảo hiểm ngay sau
tai nạn |
n |
% |
|
C̣n dính trên đầu |
352 |
73,8 |
|
Rơi
ra khỏi đầu |
128 |
26,2 |
|
Tổng |
480 |
100,0% |
T́nh trạng nón bảo
hiểm rơi ra khỏi đầu chiếm tỷ lệ
lớn 26,2%. Để nghị quyết 32/2007/nq-cp thực
sự đi vào cuộc sống th́ công tác giáo dục tuyên
truyền cần phải tiến hành song song để
người dân ư thức được lợi ích của
việc đội nón là bảo vệ sức khỏe bản
thân chứ không xem đó là việc để đối phó
với lực lượng cảnh sát giao thông, đội
nón phải cài dây điều đó mới thực sự an
toàn. Điều này cũng được nhấn mạnh
trong báo cáo của bệnh viên Chợ Rẫy: Theo giám đốc
Trương Văn Việt, việc không cài dây hoặc cài
dây quá lỏng là nguyên nhân khiến chiếc mũ không bảo
vệ được họ(3).
Bảng 7: Phân bố
bệnh nhân theo t́nh trạng nhập viện
|
GLASSGOW |
n |
% |
|
13
- 15 điểm |
405 |
61,6 |
|
9
- 12 điểm |
193 |
29,3 |
|
6
– 8 điểm |
35 |
5,3 |
|
4,
5 điểm (đe dọa tụt năo) |
25 |
3,8 |
|
Tổng |
658 |
100,0 |
Trong nghiêm cứu của
chúng tôi đa số bệnh nhân có điểm Glassgow từ
13 đến 15 điểm chiếm 61,6%, Có 193 bệnh nhân
có Glassgow từ 9 đến 12 điểm chiếm 29,3%.
Có 60 trường hợp
có glassgow từ 8 điểm trở xuống, trong đó có
25 ca trong t́nh trạng rất nặng đe dọa tụt
năo.
Qua bản trên cho thấy
tỷ lệ những tổn thương nặng trong chấn
thương sọ năo biểu hiện qua thang điểm
Glassgow đă giảm so với thời gian trước
đây, điều này sẽ bàn kỹ hơn ở phần
tổn thương trên CT sọ và phân tích nguy cơ gia
tăng tổn thương nặng ở nhóm không đội
nón bảo hiểm.
Bảng 8: Phân bố
bệnh nhân theo chỉ định chụp CT
|
Số TH được chụp CT |
N |
% |
|
|
Được chụp CT |
539 |
81,9 |
|
|
Không
chụp CT |
Bệnh
nhẹ |
105 |
16,0 |
|
Bệnh
quá nặng |
14 |
2,1 |
|
|
Tổng |
658 |
100,0 |
|
Đa số bệnh
nhân được chụp CT chiếm tỷ lệ 81,9%.
Có
119 trường hợp không chụp CT th́ chiếm phần
lớn 88% là những trường hợp có biểu hiện
lâm sàng và quá tŕnh theo dơi thấy không cần thiết chụp,
14 trường hợp c̣n lại do bệnh nặng, diễn
tiến nhanh tiên lượng tử vong.
H́nh 3:
Phân bố bệnh nhân theo chỉ định chụp CT
Bảng 9: Phân bố
bệnh nhân theo tổn thương trên CT sọ
|
Tổn thương trên CT sọ |
N |
% |
|
Không
phát hiện tổn thương |
432
|
80,1 |
|
Tụ
máu ngoài màng cứng |
24
|
4,4 |
|
Tụ
máu dưới màng cứng |
24
|
4,4 |
|
Dập
năo, xuất huyết nội sọ |
18
|
3,3 |
|
Vỡ
sọ tụ khí |
6 |
1,1 |
|
Phối
hợp |
35
|
6,5 |
|
Tổng |
539
|
100 |
Trong 539 trường
hợp chụp CT, kết quả CT không phát hiện tổn
thương chiếm tỷ lệ lớn 80,1%.
Tỷ
lệ có biểu hiện tụ máu ngoài màng cứng và tỷ
lệ bệnh nhân có kết quả CT là tụ máu dưới
màng cứng chiếm cùng tỷ lệ là 4,4%.
Số
bệnh nhân có tổn thương phối hợp mà trong
đó chủ yếu là tụ máu ngoài màng cứng có phối
hợp thêm tổn thương khác chiếm 6,5%.
Biểu hiện dập
năo, xuất huyết nội sọ chiếm tỷ lệ
3,3%, 1,1% có biểu hiện vơ sọ, tụ khí đơn thuần.
Những tổn nặng
biểu hiện trên phim ở những trường hợp
chụp CT chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 20%, Trong số
đó những trường hợp có thể can thiệp
ngoại khoa đem lại kết quả khả quan chiếm
đa số.
H́nh 4:
Phân bố bệnh nhân theo tổn thương trên phim chụp
CT
Bảng 10: Phân bố
bệnh nhân theo chấn thương kết hợp
|
Chấn thương kết hợp |
N |
% |
|
Có |
43
|
6,8
|
|
Không
|
615
|
93,2
|
|
Tổng
|
658
|
100,0 |
Có 43 trường hợp
chiếm 6,8% số trường hợp có chấn
thương kết hợp.
Bảng 11: Phân bố
bệnh nhân theo chẩn đoán,
|
Chẩn đoán |
N |
% |
|
Chấn
thương đầu |
538
|
81,7 |
|
Tụ
máu ngoài màng cứng |
24
|
3,6 |
|
Tụ
máu dưới màng cứng |
24
|
3,6 |
|
Dập
năo |
18
|
2,7 |
|
Vỡ
sọ tụ khí |
6 |
0,9 |
|
Phối
hợp |
35
|
5,3 |
|
Tử
vong do CTSN |
13 |
2,1 |
|
Tổng |
658
|
100 |
Trong 658 trường
hợp nghiên cứu th́ chẩn đoán chấn thương
đầu chiếm tỷ lệ 81,7%.
Tỷ
lệ có biểu hiện tụ máu ngoài màng cứng và tỷ
lệ bệnh nhân có kết quả CT là tụ máu dưới
màng cứng chiếm cùng tỷ lệ là 3,6%.
Số
bệnh nhân có tổn thương phối hợp mà trong
đó chủ yếu là tụ máu ngoài màng cứng có phối
hợp thêm tổn thương khác chiếm 5,3%
Biểu hiện dập
năo, xuất huyết nội sọ chiếm tỷ lệ
2,7%, 0,9% có biểu hiện vơ sọ, tụ khí đơn thuần.
Có 13 trường hợp
tử vong tại cấp cứu do chấn thương sọ
năo nặng, diễn biến nhanh.
Qua bảng 3,8 và bảng
3,9 cho ta thấy rơ tỷ lệ lớn bệnh nhân biểu
hiện chấn thương sọ năo ở mức độ
nhẹ không cần chụp CT hay những bệnh nhân có kết
quả CT b́nh thường tỷ lệ cộng gộp của
cả hai nhóm này chiếm hơn trên 80%, Sự khác nhau
giưa mức độ nặng của tổn
thương giữa hai nhóm đội hay không đội
nón bảo hiểm sẽ được bàn kỹ sau.
Kết quả này
cũng phù hợp với các khảo sát, nghiên cứu tiến
hành cung thời gian ở cùng thành phố và ở các đô
thị lớn. Nghiên cứu đánh giá t́nh h́nh tai nạn
giao thông nhập bệnh viện ND 115 từ sau nghị quyết
32/CP, số tai nạn giao thông chung nhập viện giảm
(-14,42BN/tháng, p=0,000) chủ yếu là các chấn
thương vùng đầu (-13,34BN/tháng, p=0,000), các chấn
thương khác giảm không có ư nghĩa thống kê
(-1,03BN/tháng, p=0,832). So với 8 tháng cùng kỳ năm 2007, các
bệnh nhân nhập viện tử vong do chấn
thương đầu và chấn thương chung có giảm
tương ứng 26,29% và 37,10%(3).
C̣n ở Bệnh viện
Chợ Rẫy, đơn vị đầu ngành về ngoại
khoa tại TP HCM, số ca chấn thương sọ năo nặng
đă giảm 20% so với cùng thời điểm năm
trước. Nhiều trường hợp bị đa chấn
thương rất nặng do tai nạn, nhưng phần
đầu vẫn an toàn hoặc chỉ bị thương
nhẹ nhờ đội mũ bảo hiểm. Hiện mỗi
ngày bệnh viện chỉ phải mổ cấp cứu
cho khoảng 5 ca chấn thương sọ năo, giảm 3-4
lần so với trước khi bắt buộc đội
mũ bảo hiểm.
Ở Bệnh viện
Đa khoa huyện Thủ Đức, số ca chấn
thương đầu do tai nạn giao thông cũng giảm
hơn 50%. Có nhiều ngày liên tiếp, bệnh viện không
có người vào cấp cứu với thương tích này.
C̣n ở Trung tâm y tế huyện Củ Chi, tỷ lệ chấn
thương đầu chỉ c̣n khoảng 4%, trong khi
trước khi đội mũ bảo hiểm bắt buộc,
con số này là 16%.
Bảng 13: Liên quan giữa
mức độ nặng theo thang điểm glassgowvà t́nh
trạng có hay không đội nón bảo hiểm
|
GLASSGOW |
||||
|
Đội nón |
13-15(1) |
9-12(2) |
≤ 8(3) |
Tổng |
|
Có % |
322 |
123 |
35 |
480 |
|
Không % |
83 |
70 |
25 |
178 |
|
Tổng % |
405 |
193 (29,3%) |
60 |
657 |
|
OR (1),(2)= 2,21,p(1),(2)
< 0,01 OR (1),(2)= 2,77; p(1),(3) <0,01 |
||||
Tỷ lệ bệnh
nhân có điểm Glassgow từ 13-15 điểm ở nhóm có
đội nón bảo hiểm cao 67,1%, trong khi tỷ lệ
này ở nhóm không đội nón bảo hiểm tương
đối thấp 46,6%.
Ngược lại tỷ lệ bệnh
nhân có điểm Glassgow từ 9-12 điểm hay ≤ 8 chiếm tỷ lệ khá
thấp ở nhóm có đội nón bảo hiểm lần
lược là 25,6%; 7,3%, trong khi đó tỷ lệ này
tăng ở nhóm không đội nón bảo hiểm (39,3%;
14,1%).
Sự khác biệt
giữa tỷ lệ Glassgow giảm ở các mức (2), (3) so với mức (1)
ở nhóm có đội nón bảo hiểm và nhóm không đội
nón bảo hiểm có ư nghĩa thống kê (OR (1),(2)= 2,21,p(1),(2) < 0,01 --OR (1),(2)=
2,77; p(1),(3) <0,01).
H́nh 5: Liên
quan giữa mức độ nặng theo thang điểm
glassgow và t́nh trạng có hay không đội nón bảo hiểm
Bảng 14: Liên quan giữa
tổn thương trên CTvà t́nh trạng có hay không đội
nón bảo hiểm.
|
|
|||
|
ĐỘI NÓN |
Không phát hiện tổn thương |
Có tổn thương |
Tổng |
|
Có |
322 |
64 |
386 |
|
Không |
110 |
43 |
153 |
|
Tổng % |
432 80,1 |
107 19,9 |
539 |
|
OR = 1,97, p < 0,01 |
|||
Tính riêng trên những
trường hợp có chụp CT:
Tỷ lệ bệnh
nhân có kết quả CT không phát hiện tổn thương
ở nhóm có đội nón bảo hiểm cao 83,4%, trong khi tỷ
lệ này ở nhóm không đội nón bảo hiểm thấp
hơn 71,9%.
Ngược lại
tỷ lệ bệnh nhân có kết quả CT phát hiện tổn
thương tỷ lệ khá thấp ở nhóm có đội
nón bảo hiểm lần lược là 16,6 trong khi đó tỷ
lệ này tăng ở nhóm không đội nón bảo hiểm
28,1%.
Sự khác biệt
giữa tỷ lệ có tổn thương trên CT ở nhóm
có đội nón bảo hiểm và nhóm không đội nón bảo
hiểm có ư nghĩa thống kê(OR
= 1,97; p < 0,01)
Như
vậy qua thực tế đă chứng minh đội nón bảo
hiểm không chỉ giúp hạn chế tỷ lệ chấn
thương sọ năo trong tai nạn giao thông mà c̣n giúp giảm
độ nặng của chấn thương sọ năo
trong những va chạm mạnh so với những người
không đội nón. Điều này cũng phù hợp về
cả cơ chế chấn thương tác dụng bảo
vệ của nón trong va chạm, và phù hợp với những
khảo sát, nghiên cứu trong và ngoài nước.
Tại Bệnh viện
Việt Đức, do là tuyến cuối nơi tập
trung bệnh nhân nặng nên số chấn thương sọ
năo nhập viện giảm không nhiều. Tuy nhiên trong 1 tháng
qua, tỷ lệ bệnh nặng và tử vong do nguyên nhân
này đă giảm từ 25% xuống c̣n 16%.
Nghiên cứu đánh
giá t́nh h́nh tai nạn giao thông nhập bệnh viện ND 115
từ sau nghị quyết 32/CP, so với 8 tháng cùng kỳ
năm 2007, các bệnh nhân nhập viện tử vong do chấn
thương đầu và chấn thương chung có giảm
tương ứng 26,29% và 37,10%(3).
Qua điều tra trên 658 bệnh nhân được chẩn
đoán bị chấn thương đầu do tai nạn
giao thông khi đi xe gắn máy có hoặc không có đội
nón bảo hiểm vào khám tại khoa Cấp Cứu trong khoảng
thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2008, chúng
tôi ghi nhận đa số bệnh nhân nhận viện là bệnh
nhân trẻ (tuổi trung b́nh là 30,9 ± 14,4 tuổi) mà tập
trung phần lớn vào nhóm tuổi 18 -25 tuổi, nam giới
chiếm đa số các trường hợp (66,5%), Tỷ
lệ các trường hợp không đội nón bảo hiểm
c̣n cao (23,2%), trong số những hợp trường hợp
có đội nón th́ tỷ lệ nón rơi ra khỏi đầu
cao (26,2%), Tỷ lệ chấn thương sọ năo trong
thời gian khảo sát từ sau khi Nghị quyết 32 chính
thức có hiệu lực và đi vào cuộc sống giảm
so với cùng kỳ năm trước. Đa số bệnh
nhân chấn thương sọ năo ở mức độ tổn
thương nhẹ được chẩn đoán là chấn
thương đầu và cấp toa kèm tờ theo dơi ở
nhà (81,7%), tỷ lệ có tổn thương trên phim CT sọ
thấp (18,2%), tỷ lệ tử vong 2,0%. Khi thống kê
phân tích th́ có sự khác biệt giữa tỷ lệ có tổn
thương trên CT ở nhóm có đội nón bảo hiểm
và nhóm không đội nón bảo hiểm có ư nghĩa thống
kê (OR = 1,97; p < 0,01).
Những đặc điểm trên cho thấy tỷ lệ
chấn thương sọ năo trong tai nạn giao giảm,
giảm tỷ lệ tổn thương nặng trong chấn
thương sọ năo. Qua đây cho thấy chủ
trương đúng đắn của Đảng, nhà
nước, bộ giao thông vận tải khi đưa Nghị
quyết 32 chính thức có hiệu lực và đi vào cuộc
sống. Tuy nhiên để nghị quyết thực sự
đi vào cuộc sống, người dân thực sự có
ư thức cần sự tham gia của các ban ngành liên quan.
1.
Trần Thu Hiền (2006), T́nh h́nh tử vong
do tai nạn giao thông trên toàn quốc 2005-2006.
2.
Đỗ Ngọc Hiếu (2005), Nghiên cứu
đặc điểm dịch tể thương tich do tai
nạn của bệnh nhân khi vào viện, liên quan độ
nặng chấn thương.
3.
Vơ Thành Liêm, Nguyễn Hữu Chỉnh,
và Hà Văn Lợi. T́nh h́nh chấn thương sọ năo
sau nghị quyết 32/2007/NQ-CP đánh giá qua số liệu
ghi nhận tại BV Nhân dân 115.
4.
Trần
Văn Luyện (2003), Trật tự an toàn giao thông
đường bộ thực trạng và giải pháp, NXB
Chính trị Quốc gia Hà Nội,
5.
Bùi Thị
Thắm (2008), Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến
t́nh trạng giao thông đường bộ trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng giai đoan 2000 -2007.
6.
Nguyễn
Hữu Tú (1997), Phương pháp TRISS trong tiên lượng và
đánh giá chất lượng điều trị bệnh
nhân chấn thương tại bệnh viện Việt
Đức, Luận văn Tiến sĩ, Y HN
7.
Lĩnh vực
Chính sách Y tế, Viện Chiến lược và Chính sách y tế
(2002), T́nh h́nh tai nạn thương tích ở Việt Nam,
các giải pháp pḥng chống, NXB Y học.
8.
Bullock, R, Clifton G, et al, Guidelines for the Management of Severe Brain
Injury New York: Brain trauma foundation/American Association of
Neurologic Surgeons, 1995.
9.
Champion HR et al (1989), A Revision of the Trauma Score, Journal of Trauma vol 29: 623-629.