Lê
Quang Sơn*, Nguyễn Văn Chừng**, Nguyễn Văn
Sách***
Mục tiêu: Khảo sát những đặc
điểm Gây Mê hồi sức trong phẫu thuật nội
soi viêm ruột thừa.
Thiết kế
nghiên cứu: Tiền cứu
mô tả.
Phương pháp: Gây mê toàn diện qua nội khí quản.
Kết quả: Tuổi, giới tính, ASA, bệnh cảnh
kết hợp không có ảnh hưởng đến tai biến
tim mạch trong phẫu thuật. Sau 20ph bơm hơi ETCO2
tăng có ư thống kê (P<0.05) và kéo dài đến cuối
cuộc mổ. Tăng thông khí để tránh t́nh trạng
ưu thán. Trong mổ tai biến mạch nhanh là chủ yếu.
Hồi sức trước mổ sẽ cải thiện
được t́nh trạng này.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi viêm ruột
thừa thực hiện tốt trên bệnh nhân có ASA I và ASA
II. Tăng thông khí để giữ ETCO2 ổ định,
khống chế áp lực bơm hơi vào ổ bụng
không vượt qua12mmHg có tác dụng hạn chế rối
loạn huyết động.
STUDY
CHARACTERISTICS OF ANESTHESIA IN LAPAROSCOPIC APPENDECTOMY
WITH PERITONEAL CO2 INSUFFLATION
Objectives: Survey characteristics of anesthesia in
laparoscopic appendectomy.
Study design: Prospective, descriptive study.
Methods: General anesthesia with endotracheal intubation.
Results: Age, sex, ASA and combined diseases don't influence cardiovascular complications in laparoscopic appendectomy. 20 minutes after the beginning of CO2 insufflation, ETCO2 increases significantly (P<0.05) and extends during operation. Hyperventilation is insufficient to avoid hypercapnia. In operation, fast puise complication is essential. Resuscitation before operation improves this condition.
Conclusions: Laparoscopic appendectomy is safe for patients with ASA I and ASA II. Hyperventilation to keep stable ETCO2. Control peritoneal insufflation to IAP less than 12mmHg limits respiratory and hemodynamic disturbaces.
Viêm ruột thừa cấp là bệnh ngoại khoa thường gặp trong cấp cứu hàng ngày ở các bệnh viện. Từ hơn 100 năm trước, năm 1886 Mac Burney đă mô tả phẫu thuật cắt ruột thừa và cho đến ngày nay phẫu thuật này vẫn c̣n được áp dụng.
Sau
khi Philippe Mouret cắt túi mật nội soi năm 1987
đầu tiên ở Pháp cùng với sự xuất hiện
camera có vi mạch điện tử phẫu thuật
nội soi nhanh chóng phổ biến khắp thế giới
và ngày nay đă tiến một bước vượt
bậc(4).

Ở Việt
nam, phương pháp mổ nội soi được các bác
sĩ ngoại khoa áp dụng trong các ngành như: phụ
khoa, ngoại tổng quát, niệu khoa… và phát triển ngày
càng mạnh mẽ.
Trong những
năm gần đây nhiều bệnh viện, trong đó có
Bệnh viện Đa khoa Khu vực Thống Nhất-
Đồng Nai đă triển khai phẫu thuật nội
soi, nhiều trường hợp cấp cứu đă
được phẫu thuật bằng phương pháp
nội soi ổ bụng trong đó có bệnh viêm ruột
thừa. So với phương pháp mổ mở, phẫu
thuật cắt ruột thừa bằng nội soi đem
lại thẩm mỹ cao, ít đau sau mổ, ít nhiễm
trùng vết mổ, thời gian nằm viện ngắn.
Mặt khác về lâu dài có thể tránh được
những biến chứng của đường mổ dài
như thoát vị vết mổ, tắc ruột(5,7). Ngoài ra về tâm lư bệnh nhân
thích được mổ nội soi hơn nên đă làm cho
chỉ định này ngày càng rộng răi.
Tuy nhiên, phẫu
thuật nội soi vẫn có những bất lợi về
hô hấp và tuần hoàn hậu quả của việc
bơm thán khí vào ổ bụng trong lúc mổ(9). Đặc biệt những
bệnh nhân chưa được bồi phục thể
tích tuần hoàn trước mổ và các bệnh kèm theo
chưa được phát hiện, chưa được
điều trị đă khiến cho các bác si gây mê hồi
sức gặp nhiều khó khăn.
Nghiên cứu
đặc điểm của gây mê hồi sức trong
phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa có
bơm thán khí vào ổ bụng.
Nghiên cứu các
đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong
phẫu thuật nội soi cắt ruôt thừa viêm có bơm
thán khí vào ổ bụng.
Đánh giá các chỉ số hô hấp, tuần hoàn trong phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa với gây mê toàn diện.
Đánh giá các tai biến và biến chứng trong
phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa.
Nghiên cứu
tiền cứu, mô tả.
Bệnh nhân vào
điều trị tại khoa ngoại của Bệnh
viện Đa khoa Khu vực Thống Nhất- Đồng
Nai với chẩn đoán theo dơi viêm ruột thừa.
ASA I, II
Bệnh nhân
được chẩn đoán là viêm ruột thừa
dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng.
Bệnh nhân có
chống chỉ định của phẫu thuật
nội soi như: suy tim, suy vành, tăng áp lực nội
sọ…
Trong phẫu thuật nội soi rối loạn nhịp
tim gặp khoảng 17% trường hợp(1),
với độ tin cậy 95% th́ cỡ mẫu tối
thiểu như sau:
n
=![]()
Như
vậy cần tối thiểu 217 trường hợp.
Máy
gây mê có giúp thở, dụng cụ đặt nội khí
quản. Thuốc tiền mê, thuốc gây mê
Monitor
theo dơi sinh hiệu, độ băo ḥa oxy mao mạch, ECG,
đo thán khí cuối kỳ thở ra.
Các
thuốc dùng để hồi sức: Epinephrin, Lidocain…;
dịch truyền: Sodium Chloride 9‰, Lactated Ringer’s.
Khai
thác tiền sử
Khám
lâm sàng đánh giá tổng trạng, tim mạch và hô hấp.
Làm các xét nghiệm: công thức máu, chức năng đông máu, chức năng gan, thận, điện tâm đồ.
Đánh
giá nguy cơ phẫu thuật theo ASA.
Kỹ thuật gây
mê hồi sức
Bệnh
nhân được theo dơi liên tục dấu sinh tồn,
nhịn ăn, truyền dịch thay thế. Khi có chỉ
định phẫu thuật nội soi ruột thừa
sẽ được chuyển đến pḥng mổ, kháng
sinh phù hợp được cho để pḥng ngừa
nhiễm trùng. Tất cả bệnh nhân đều
được bù khoảng 500 –1000ml dung dịch Sodium
Chloride 9‰ hoặc Lactated Ringer’s trước khi mổ.
Khám
lại, giải thích và trấn an tâm lư bệnh nhân. Chuẩn
bị đầy đủ thuốc mê và các phương
tiện để gây mê.
Kiểm
tra đường truyền dịch và truyền dịch
trước mổ.
Gắn
các phương tiện theo dơi
Tất
cả bệnh nhân đều được gây mê toàn
diện qua nội khí quản, hô hấp điều
khiển, kỹ thuật gây mê cân bằng.
Tiền mê: Midazolam 0,05mg/kg vài phút trước khi khởi mê +fentanyl 1- 2µ/kg Bệnh nhân được thở oxy 100% qua mask 5ph trước khi dẫn đầu.
Dẫn
mê: Thiopental 4- 7mg/kg hoặc propofol liều 1,5- 2mg/kg khi
bệnh nhân có tiền căn hen.
Thuốc
dăn cơ: trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng
Vecuronium 0,08- 0,1mg/kg. Những bệnh nhân có chức năng
gan thận giảm, chúng tôi cho Atracurium 0,5mg/kg.
Duy
tŕ mê bằng Isoflurane + Fentanyl.
Khi
thực hiện bơm thán khí vào ổ bụng bệnh nhân
nằm ngửa và ở mặt phẳng ngang.
Ap
lực bơm vào ổ bụng được cài
đặt tối đa không vượt quá 12mmHg.
Sau
bơm thán khí bệnh nhân được đặt ở
tư thế đầu hơi thấp từ 100-
150 so với mặt phẳng ngang, nghiêng
trái 100- 200.
Mổ
xong, đặt bệnh nhân trở lại tư thế
ngửa, mặt phẳng ngang, sau đó xả hơi từ
từ cho đến hết hoàn toàn qua trocar.
Giảm
đau sau mổ bằng các thuốc như Tramadol, Ketoprofen…
Kháng
sinh sau mổ được cho vài ngày tùy theo biến
chứng nhiễm trùng.
Theo
dơi: Ghi nhận mạch, huyết áp, SpO2 lúc vào pḥng
mổ, sau tiền mê, trước lúc dẫn mê, sau lúc
dẫn mê, trước khi bơm thán khí, mỗi 5 phút sau khi
bơm hơi, trước và sau khi xả hơi 5phút.
Tại pḥng hồi tỉnh các thông số mạch, huyết
áp, SpO2 được ghi nhận ở các thời
điểm trước rút nội khí quản, sau rút
nội khí quản 15phút, 30phút, 1giờ, 2 giờ và 6giờ
sau mổ.
ETCO2
được theo dơi trước khi bơm hơi và sau khi
bơm hơi mỗi 5phút. Điều chỉnh thông khí
để ETCO2 trong khoảng 35 ± 5mmHg.
Chuyển
sang mổ mở nếu ETCO2 không thể duy tŕ
ở mức dưới 50mmHg hoặc dự kiến
cuộc mổ quá phức tạp.
Rút
nội khí quản tại pḥng hồi tỉnh khi bệnh
nhân tỉnh hẳn, hết tác dụng của thuốc dăn
cơ. Thở oxy qua mũi 3l/ph trong 2 giờ đầu sau
mổ.
Mạch chậm < 60l/phút hoặc
nhanh > 100l/phút trên 5phút.
Huyết áp: tăng trên 30% mức ban
đầu trên 5phút, giảm dưới 30% mức ban
đầu trên 5phút.
Loạn nhịp tim trên lâm sàng và trên
ECG.
ECG:
ST chênh > 1mm / 5phút.
Nhồi
máu cơ tim: kết hợp h́nh ảnh trên ECG + thử men
tim.
Tràn
khí màng phổi.
Tràn
khí dưới da.
Suy
hô hấp.
Viêm
phổi do hít dịch dạ dày trào ngược.
Xẹp
phổi.
Thuyên
tắc khí.
Biến
số liên tục được tŕnh bày bằng giá trị
trung b́nh ± độ lệch chuẩn.
Dùng phép kiểm T
bắt cặp để so sánh hai giá trị trung b́nh trên
cùng một nhóm (ETCO2, mạch, huyết áp) ở các
thời điểm.
Dùng phép kiểm T
không bắt cặp để so sánh hai giá trị trung b́nh
ở hai đối tượng nhóm khác nhau (huyết áp,
mạch theo giới và ASA) ở các thời điểm.
Anova để so
sánh giá trị trung b́nh của mạch, huyết áp ở các
nhóm tuổi khác nhau.
Phép kiểm chi b́nh
phương để so sánh mạch nhanh trước
mổ và lúc phẫu thuật.
Mức ư nghĩa
trong toàn bộ nghiên cứu là P< 0,05, các số liệu
được xử lư bằng phần mềm phân tích
thống kê Stata 10.
Bảng 1: Phân
bố theo đặc điểm bệnh
|
Viêm ruột thừa cấp |
Viêm phúc mạc RTKT |
VRT/ có thai |
Tổng cộng |
|
302 |
17 |
03 |
322 |
|
93,79% |
5,28% |
0,93% |
100% |
Bảng 2: Phân
bố BN theo giới tính
|
Nữ |
|
Tổng |
|
189 (58,7%) |
133 (41,3%) |
322 |
Bảng 3: Ảnh hưởng
của giới tính lên mạch, huyết áp trong phẫu
thuật
|
|
Nữ |
|
P |
|
Mạch nhanh |
48 |
38 |
P> 0,05 |
|
Mạch không nhanh |
141 |
95 |
|
|
Huyết áp tăng |
30 |
14 |
P> 0,05 |
|
Huyết áp không
tăng |
159 |
119 |
Bảng 4: Phân bố BN theo tuổi
|
≤ 40 tuổi |
41– 60 tuổi |
> 60 tuổi |
Tổng cộng |
|
240 |
67 |
15 |
322 |
|
74,53% |
20,81% |
4,66% |
100% |
Bảng 5: Ảnh
hưởng của tuổi bệnh nhân lên mạch, HA trong
phẫu thuật
|
|
≤ 40 tuổi |
41- 60 tuổi |
> 60 tuổi |
P |
|
Mạch nhanh |
69 |
14 |
3 |
P>0,05 |
|
Mạch không nhanh |
171 |
53 |
12 |
|
|
Huyết áp tăng |
31 |
10 |
3 |
P>0,05 |
|
Huyết áp không
tăng |
209 |
57 |
12 |
Bảng
6: Phân bố bệnh nhân
theo ASA
|
ASA |
Bệnh
nhân |
Tỷ
lệ |
|
I |
262 |
81,4% |
|
II |
60 |
18,6% |
Bảng
7: Ảnh hưởng
của ASA lên mạch, HA trong phẫu thuật
|
|
ASA I |
ASA II |
P |
|
Mạch nhanh |
73 |
13 |
P>
0,05 |
|
Mạch không nhanh |
189 |
47 |
|
|
Huyết áp tăng |
33 |
11 |
P> 0,05 |
|
Huyết áp không tăng |
229 |
49 |
Bảng
8: Phân bố bệnh nhân
có bệnh kèm theo
|
Bệnh
lư |
Bệnh
nhân |
|
Cao huyết áp |
25 |
|
Thiểu năng vành |
12 |
|
Block nhánh phải |
11 |
|
Tiểu đường |
1 |
|
Gan nhiễm mỡ |
5 |
|
Bướu giáp |
2 |
|
Sỏi thận |
4 |
Bảng
9: Ảnh hưởng
của bệnh kèm theo lên mạch, HA trong phẫu thuật
|
Bệnh
kèm theo |
Mạch
nhanh |
Mạch
không nhanh |
Huyết
áp tăng |
Huyết
áp không tăng |
P |
|
Cao huyết áp |
17 |
8 |
24 |
1 |
P> 0.05 |
|
Thiểu năng vành |
11 |
1 |
9 |
3 |
|
|
Block nhánh |
9 |
2 |
9 |
2 |
|
|
Bệnh khác |
9 |
3 |
8 |
4 |
Bảng
10: Mối liên quan
giữa mạch ở pḥng mổ và lúc phẫu thuật
|
Ở
pḥng mổ |
Lúc
phẫu thuật |
P |
||
|
Mạch
không nhanh |
Mạch
nhanh |
|||
|
Mạch không nhanh |
245 |
211 |
34 |
P< 0,05 |
|
Mạch nhanh |
77 |
25 |
52 |
|
Bảng
11: Mối liên quan
giữa mạch lúc trước mổ và mạch ở pḥng
mổ
|
Trước mổ |
Ở pḥng mổ |
P |
||
|
Mạch không nhanh |
Mạch nhanh |
|||
|
Mạch không nhanh |
238 |
213 |
25 |
P <0,05 |
|
Mạch nhanh |
84 |
32 |
52 |
|

Biểu đồ 1:
Thay đổi ETCO2 ở các thời điểm

Biểu đồ 2:
Thay đổi huyết áp ở các thời điểm
Bảng 12: Theo dơi
mạch, huyết áp, ETCO2 ở các thời
điểm.
|
Thời
điểm |
HATB |
Mạch |
ETCO2 |
SpO2 |
|
|
Nhận bệnh |
90,40 ± 10,7* |
92,82 ± 13,3* |
|
99,04 |
|
|
Tiền mê |
82,68 ± 9,67 |
87,5± 12,24 |
|
99,02 |
|
|
Trước bơm hơi |
84,32 ± 12,85 |
88,02± 12,13 |
33,66 ± 6,24 |
99,12 |
|
|
5’ (sau BH) |
93,24 ± 12,21* |
92,34± 15,06* |
36,39 ±6,50** |
98,03 |
|
|
10’ (sau BH) |
91,08 ± 11,83* |
91,86± 14,16* |
37,82± 6,84** |
98,15 |
|
|
20’ (sau BH) |
88,17 ± 10,36* |
94,54 ± 13,00* |
39,93± 7,88** |
97,18 |
|
|
30’ (sau BH) |
86,,75 ± 10,7* |
95,82 ± 13,95* |
39,50±7,21** |
99,26 |
|
|
60’ (sau BH) |
84,61 ± 11,30* |
95,08 ± 11,70 |
38,16± 6,75** |
99,05 |
|
|
Trước
xả hơi |
87,61 ± 10,81* |
94,45 ±12,90 |
39,33 ± 7,13** |
98,11 |
|
|
Sau xả
hơi |
85,67 ± 10,61* |
94,65 ± 12,75 |
35,87 ±7,72** |
99,08 |
|
|
Hậu
phẫu |
Nhận
bệnh |
86,74 ± 13,23* |
95,59 ± 8,75* |
|
98,12 |
|
Sau rút NKQ |
89,85 ± 8,35* |
92,26 ±8,14* |
|
98,58 |
|
|
Sau mổ 30’ |
87,07 ± 8,67* |
89,63 ± 7,21* |
|
99,05 |
|
|
Sau mổ 1
giờ |
85,15 ± 8,73* |
87,59 ± 6,87* |
|
98,12 |
|
|
Sau mổ 2
giờ |
83,66 ± 8,07 |
85,93 ± 6,21 |
|
98,46 |
|
|
Sau mổ 6 giờ |
82,43 ± 7,43 |
84,32 ± 5,65 |
|
98,50 |
|
* Mạch, huyết áp
tăng so với thời điểm tiền mê (P< 0,05). **
ETCO2 tăng so với trước bơm hơi
(P< 0,05).

Biểu đồ 3:
Thay đổi mạch ở các thời điểm
Bảng 13: Theo dơi
tai biến trong mổ
|
Tai biến |
Số trường hợp |
Tỷ lệ |
|
Mạch nhanh |
86 |
26,7% |
|
Huyết áp tăng |
44 |
13,7% |
Nghiên
cứu của chúng tôi có 322 trường hợp
được phẫu thuật nội soi cắt ruột
thừa viêm. Bệnh nhân bị viêm ruột thừa cấp chiếm
tỷ lệ cao nhất (93,79%), trong đó có 3 bệnh nhân
có thai bị viêm ruột thừa. Tỷ lệ nữ
bị viêm ruột thừa (58,7%) nhiều hơn nam (41,3%),
tỷ lệ này phù hợp với nghiên cứu của Lê
Văn Nghĩa(5). Trong nhóm nghiên cứu chúng tôi
nhận thấy giới tính không ảnh hưởng
đến tai biến tim mạch. Tuổi trung b́nh bệnh
nhân viêm ruột thừa là 32,0± 13,75, kết quả này phù hợp
với báo cáo của Lê Quang Quốc Ánh(4). Bệnh
nhân có tuổi dưới 40 chiếm tỷ lệ cao
nhất (75,73%). Tuổi bệnh nhân không ảnh
hưởng đến tai biến tim mạch. Bệnh nhân
có ASA I chiếm tỷ lệ cao nhất (81,6%). Đây là
những bệnh nhân khỏe có thể chịu đựng được
các biến đổi về hô hấp và huyết
động do sự bơm hơi vào ổ bụng gây ra.
Chúng tôi cũng nhận thấy ASA không ảnh hưởng
đến tai biến tim mạch.
Trong
nhóm nghiên cứu của chúng tôi có 60 bệnh nhân mắc các
bệnh khác kèm theo chiếm tỷ lệ 18,6%. Bệnh lư tim
mạch chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh
kèm theo đặc biệt là cao huyết áp. Tuy nhiên chúng tôi
nhận thấy các bệnh lư kèm theo của lô nghiên cứu
không ảnh hưởng đến tai biến tim mạch
trong phẫu thuật.
Mạch
nhanh trước mổ có 84 bệnh nhân (26,09%). Mạch
nhanh phản ánh t́nh trạng giảm khối lượng
tuần hoàn cũng như t́nh trạng viêm nhiễm của
bệnh nhân. Mạch nhanh trong pḥng mổ là do ảnh
hưởng của mạch nhanh trước mổ (P<
0,05). Điều này nói lên rằng công tác hồi sức
trước mổ hết sức quan trọng. Trong nhóm
nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân có mạch nhanh
chiếm tỷ lệ cao do hồi sức chưa tích
cực.
Tăng
ETCO2 5 phút sau bơm thán khí vào ổ bụng có ư
nghĩa thống kê (P< 0,05), đạt đến
đỉnh điểm 20 phút sau bơm hơi là do sự
hấp thu thán khí của màng bụng. Sự ổn
định ETCO2 sau 20 phút cho đến cuối
cuộc mổ có thể là do sự hấp thu thán khí từ
màng bụng đạt đến cân bằng với sự
tăng thông khí bù trừ.
Theo
Bhavani-ShanKar K và cộng sự(1), ở những bệnh nhân có thai
được cắt túi mật nội soi th́ có sự
tăng ETCO2 trong suốt quá tŕnh bơm hơi vào
ổ bụng, việc tăng thông khí để giữ ETCO2
trong khoảng 32mmHg không gây ra t́nh trạng toan hô hấp.
Theo Moreno-San Z C và cộng sự(6), ở bệnh nhân có thai được cắt ruột thừa nội soi, áp lực ổ bụng không vượt quá 12mmHg, thời gian dưới 60 phút, thông khí để giữ ETCO2 từ 30- 40 mmHg sẽ ngăn ngừa t́nh trạng toan ở mẹ. Do đó sẽ ngăn ngừa được t́nh trạng toan máu ở thai nhi.
Theo nghiên cứu của
Trong
nghiên cứu của chúng tôi sau khi bơm hơi vào ổ
bụng chúng tôi nhận thấy có sự tăng ETCO2
so với lúc trước bơm hơi (có ư nghĩa
thống kê). Sự tăng ETCO2 được
giữ không thay đổi khi chúng tôi tăng thể tích khí
lưu thông từ 10ml/kg/phút lên 12ml/kg/phút với nhịp
thở được cài đặt không thay đổi là
12 nhịp/phút. Chúng tôi thấy kết quả này phù hợp
với kết quả nghiên cứu cuả
Hai
tác nhân gây xáo trộn trên hệ tuần hoàn là áp lực
bơm hơi và tư thế bệnh nhân(2). Chính v́
vậy việc bơm hơi vào ổ bụng phải
được thực hiện từ từ, tăng
dần áp lực nhưng không vượt quá 12mmHg với
lưu lượng ban đầu 2,5l/phút để có
sự thích nghi về tuần hoàn và hạn chế những
hậu quả do áp lực gây ra(8).
Trong
nghiên cứu của Tan TL(10). Bệnh nhân ở tư thế
Trendelenburg, tác giả nhận thấy có sự tăng
huyết áp sau bơm hơi.
Trong
nghiên cứu của Moreno-SanZ C(6) ở bệnh nhân có thai
được cắt ruột thưà nội soi trong tư
thế nghiêng trái 200- 300. Tác giả không
thấy có sự thay đổi huyết động
lớn.
Trong
nhóm nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy sau bơm hơi 5
phút huyết áp động mạch trung b́nh đạt
đến đỉnh điểm (có ư nghĩa thống kê)
so với lúc tiền mê. Khi bơm thán khí vào ổ bụng
gây chèn ép các mạch máu lớn làm tăng sức cản ngoại
vi đưa đến hậu quả làm tăng huyết
áp động mạch(9). Sau tháo hơi lượng
máu về tim tăng dẫn tới tăng tiền gánh, trong
lúc sức cản của hệ thống c̣n cao do các hormone
Vasopressin, catecholamines được tiết ra lúc bơm
thán khí làm tăng huyết áp. Chính v́ vậy sau khi xả
hơi chúng tôi nhận thấy huyết áp trung b́nh vẫn
c̣n cao (P<0,05). Tuy nhiên trong nghiên cứu chúng tôi nhận
thấy huyết áp trung b́nh tăng nhưng vẫn kiểm
soát được, không có trường hợp nào phải
dùng thuốc dăn mạch.
Khi
có hiện tượng tăng thán khí, quan sát mạch lúc
mổ chúng tôi thấy mạch tăng có ư nghĩa thống
kê trong suốt cuộc mổ (P< 0,05). Sự gia tăng ETCO2
có thể làm kích thích hệ giao cảm(3). Mặt khác mạch nhanh c̣n do
sự thiếu hụt tuần hoàn gây ra.
Tất
cả bệnh nhân đều được mổ
bằng nội soi, không có trường hợp nào phải
chuyển mổ mở. Chúng tôi ghi nhận 3 trường
hợp có ETCO2 tăng đến 50mmHg. Ba
trường hợp này sau khi được kiểm tra
kỹ, chúng tôi giảm áp lực ổ bụng xuống c̣n
10mmHg đồng thời tăng thông khí, ETCO2 giảm
dưới 50mmHg. Chúng tôi có 3 bệnh nhân có thai, không ghi
nhận sự thay đổi bất thường của
ETCO2 trong suốt cuộc mổ, sau mổ cả 3
bệnh nhân đă xuất viện an toàn.
Tai biến về tim mạch trong nhóm nghiên cứu chiếm tỷ lệ khá cao. Mạch nhanh chiếm 26,7%. Mạch nhanh trong phẫu thuật là do mạch nhanh lúc trước mổ, có ư nghĩa thống kê (P < 0,05). Mạch nhanh trong nhóm nghiên cứu cao có thể do sự bù dịch của chúng tôi chưa đủ, thêm vào đó việc tăng ETCO2 trong lúc mổ có thể kích thích giao cảm, do đó làm tăng nhịp tim. Tai biến về huyết áp trong phẫu thuật chiếm tỷ lệ 13,7%. Tai biến tăng huyết áp là do ảnh hưởng của áp lực bơm vào ổ bụng và tư thế bệnh nhân gây ra. Mặc dù trong nghiên cứu này chúng tôi bơm khí vào ổ bụng áp lực dưới 12mmHg nhưng tác động của áp lực bơm hơi trong ổ bụng vẫn c̣n ảnh hưởng nhiều đến huyết động của bệnh nhân.
Phẫu thuật nội soi ruột thừa có thể thực hiện tốt trên bệnh nhân có ASA I và ASA II. Bệnh cảnh kết hợp, giới, tuổi, ASA không có ảnh hưởng đến tai biến tim mạch. Tăng thông khí để giữ ETCO2 ổn định cũng như khống chế áp lực bơm hơi vào ổ bụng không vượt quá 12mmHg có tác dụng hạn chế rối loạn huyết động và hô hấp.
2. Carrasco PM, Aledo V S, Mompean JAL, Zambudio A R, Flores D P, Paricio P P (2002), “Role of appendectomy in training for laparoscopic surgery”, Surg Endosc; 17, pp. 111- 114.
4.
Lê Quang
Quốc Ánh (2006), “Nghiên cứu ứng dụng kỹ
thuật cắt ruột thừa viêm cấp qua nội soi
ổ bụng”, Y học thành
phố Hồ Chí Minh, 10(1), tr. 410- 415.
10.
Tan PL, Lee
TL,